LTS: Từ những cánh đồng, làng quê đến các vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa, người nông dân Việt Nam hôm nay đang đứng trước một không gian phát triển rộng lớn, với nhiều cơ hội nhưng cũng không ít yêu cầu mới. Không còn chỉ gắn với ruộng đồng và sản xuất nhỏ lẻ, người nông dân đang từng bước trở thành chủ thể của quá trình đổi mới nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới.
Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới, yêu cầu xây dựng giai cấp nông dân văn minh, phát triển toàn diện, có ý chí, tự lực, tự cường và khát vọng vươn lên càng trở nên cấp thiết. Đây cũng là tinh thần xuyên suốt trong các chủ trương lớn của Đảng về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, hướng tới mục tiêu phát triển nông nghiệp hiện đại, nông thôn văn minh, đời sống người dân ngày càng được nâng cao.
Thái Nguyên từ lâu được biết đến là "thủ phủ chè" của cả nước. Cây chè không chỉ tạo sinh kế cho hàng chục nghìn hộ dân mà còn trở thành biểu tượng văn hóa, góp phần tạo dựng thương hiệu nông sản đặc trưng của địa phương. Trong bối cảnh người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến chất lượng, an toàn thực phẩm và xuất xứ, truy xuất nguồn gốc đang trở thành yếu tố quan trọng giúp chè Thái Nguyên nâng cao giá trị, củng cố niềm tin và mở rộng thị trường.
Từ thực tiễn trên, Đời sống & Pháp luật thực hiện tuyến bài nhằm tập trung phản ánh việc truy xuất nguồn gốc đang được triển khai tại vùng chè Thái Nguyên, những thay đổi thực tế đối với người trồng chè, hợp tác xã và doanh nghiệp; đồng thời làm rõ các điểm nghẽn cần tháo gỡ để truy xuất nguồn gốc trở thành công cụ nâng cao giá trị, thương hiệu và sức cạnh tranh của chè Thái Nguyên trong khu vực và trên thế giới.
Từ cây chè đến thương hiệu "danh bất hư truyền" của một vùng đất
Nhắc đến Thái Nguyên, chè từ lâu đã trở thành một trong những sản phẩm nông nghiệp tiêu biểu nhất. Không chỉ mang lại sinh kế cho hàng chục nghìn hộ dân, cây chè còn gắn với văn hóa, đời sống và hình ảnh của vùng đất trung du phía Bắc.
Điều kiện tự nhiên, thổ nhưỡng cùng kinh nghiệm canh tác được tích lũy qua nhiều thế hệ đã tạo nên hương vị đặc trưng của chè Thái Nguyên. Cùng với đó, sau sáp nhập tỉnh, Thái Nguyên có thêm dư địa để mở rộng diện tích và đa dạng hóa sản phẩm chè. Những vùng chè Shan tuyết cổ thụ, chè hoa vàng ở các địa phương miền núi, vùng cao phía Bắc trở thành lợi thế mới, bổ sung cho “Ngũ đại danh trà” Tân Cương, Trại Cài, Khe Cốc, La Bằng và Đồng Phúc vốn đã nổi tiếng. Đây là nền tảng quan trọng để hình thành bức tranh toàn diện về ngành chè, từ sản xuất đại trà đến đặc sản, từ chè xanh truyền thống đến các dòng sản phẩm chế biến sâu.
Đến hết tháng 6/2026, diện tích chè toàn tỉnh Thái Nguyên đạt 22.200 ha
Tại Thái Nguyên, cây chè không đơn thuần là một loại cây trồng. Đó còn là sinh kế, là nghề truyền thống và là tài sản được người dân gìn giữ qua nhiều thế hệ.
Với người trồng chè lâu năm, mỗi lứa chè là kết quả của cả một quy trình chăm sóc. Từ khâu lựa chọn giống, làm đất, chăm sóc, bón phân, phòng trừ sâu bệnh đến thu hái, chế biến đều có thể tác động trực tiếp đến chất lượng sản phẩm.
Chính vì vậy, để một sản phẩm chè có thể đi xa hơn, câu chuyện không chỉ nằm ở hương vị mà còn ở khả năng chứng minh sản phẩm được tạo ra như thế nào.
Trong nhiều năm, chè Thái Nguyên chủ yếu được tiêu thụ tại thị trường trong nước thông qua hệ thống đại lý, cửa hàng, hợp tác xã, doanh nghiệp và các kênh bán lẻ. Cùng với sự phát triển của sản xuất, chế biến và thương mại điện tử, sản phẩm chè của tỉnh ngày càng tiếp cận nhiều nhóm khách hàng hơn, từ thị trường truyền thống đến các hệ thống phân phối hiện đại.
Một số doanh nghiệp, hợp tác xã đã từng bước đưa sản phẩm chè tiếp cận thị trường nước ngoài. Đây là tín hiệu tích cực, cho thấy dư địa phát triển của ngành chè còn rất lớn.
Tuy nhiên, để đứng vững ở những thị trường có yêu cầu cao, câu chuyện “chè ngon” thôi chưa đủ. Người tiêu dùng ngày càng muốn biết sản phẩm mình mua được trồng ở đâu, sử dụng giống gì, quy trình chăm sóc ra sao, có sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hay không, thu hái thời điểm nào, được chế biến ở đâu và trải qua những khâu nào trước khi đến tay người tiêu dùng.
Đối với các thị trường xuất khẩu, những yêu cầu về dư lượng hóa chất, an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn sản xuất, hồ sơ vùng trồng và khả năng kiểm soát chuỗi cung ứng ngày càng được chú trọng.
Không chỉ mang lại sinh kế cho hàng chục nghìn hộ dân, cây chè còn gắn với văn hóa, đời sống và hình ảnh của vùng đất trung du phía Bắc. Ảnh: Nguyễn Lâm
Thực tế, ngành chè Thái Nguyên vẫn còn gặp nhiều khó khăn, thách thức như: nhiều diện tích trồng chè bị thu hẹp, thiếu hụt nhân lực; quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ, liên kết chuỗi giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp chưa thực sự bền vững, tỷ trọng sản phẩm chế biến sâu còn thấp, chủ yếu vẫn là chè xanh truyền thống; Nhiều hộ sản xuất và tổ hợp tác chưa đủ nguồn lực tài chính và năng lực quản trị để ứng dụng công nghệ số đồng bộ…
Những quyết sách tạo đà tăng trưởng
Xuất phát từ yêu cầu đó, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đã ban hành Nghị quyết số 11-NQ/TU về phát triển ngành chè Thái Nguyên giai đoạn 2025 - 2030, xác định mục tiêu phát triển ngành chè theo hướng hiện đại, bền vững, đẩy mạnh sản xuất an toàn, hữu cơ gắn với chế biến sâu, đa dạng hóa sản phẩm; thu hút đầu tư, ứng dụng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong toàn bộ chuỗi sản xuất, chế biến, tiêu thụ.
Theo mục tiêu của Nghị quyết, đến năm 2030, tổng giá trị sản phẩm thu được từ cây chè đạt khoảng 25.000 tỷ đồng; 70% diện tích chè được chứng nhận sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ; 70% diện tích được cấp mã số vùng trồng; toàn bộ doanh nghiệp, hợp tác xã (HTX) có vùng nguyên liệu ứng dụng công nghệ số trong quản lý sản xuất và truy xuất nguồn gốc; 100% sản phẩm trà được kinh doanh trên các nền tảng thương mại điện tử.
Sau hơn một năm triển khai, ngành chè của tỉnh Thái Nguyên đã có nhiều chuyển biến tích cực. Đến hết tháng 6/2026, diện tích chè toàn tỉnh đạt 22.200 ha, bằng 98,3% kế hoạch năm; sản lượng chè búp tươi đạt trên 127 nghìn tấn. Toàn tỉnh hiện có gần 6.670 ha chè được chứng nhận VietGAP, hữu cơ; 141 mã số vùng trồng được cấp và quản lý; 204 sản phẩm chè đạt OCOP từ 3 đến 5 sao, trong đó có 6 sản phẩm đạt OCOP 5 sao cấp quốc gia.
Ông Tô Văn Khiêm, Chủ tịch HĐQT Hợp tác xã Chè an toàn Khe Cốc (xã Vô Tranh, tỉnh Thái Nguyên). Ảnh: NVCC
Là một trong những đơn vị có nhiều đơn hàng chè xuất khẩu, ông Tô Văn Khiêm, Chủ tịch HĐQT Hợp tác xã Chè an toàn Khe Cốc (xã Vô Tranh, tỉnh Thái Nguyên) cho biết, năm 2019, 3 sản phẩm trà của Hợp tác xã được xuất khẩu sang thị trường châu Âu. Đến năm 2022, gần 20 tấn chè thành phẩm tiếp tục được đưa tới thị trường này.
Theo ông Khiêm, để đáp ứng yêu cầu của những thị trường khó tính, Hợp tác xã đã gia hạn thành công chứng nhận hữu cơ trên diện tích 20ha chè hiện có, đồng thời mở rộng vùng nguyên liệu lên hơn 100ha.
Ông Khiêm cho biết thêm, để có thể đưa chè vào những thị trường yêu cầu cao, các đơn vị phải đầu tư bài bản và liên tục hoàn thiện. Việc đáp ứng tiêu chuẩn không phải yêu cầu chỉ thực hiện một lần khi xuất khẩu, mà là cả quá trình kiểm soát từ vùng nguyên liệu đến chế biến, đóng gói và truy xuất nguồn gốc.
“Mã định danh” cho từng sản phẩm chè
Nếu coi một sản phẩm chè là một “hành trình”, truy xuất nguồn gốc chính là hệ thống ghi lại hành trình đó. Một gói chè khi đến tay người tiêu dùng không chỉ cần có thông tin về tên sản phẩm, cơ sở sản xuất hay ngày đóng gói. Quan trọng hơn, phía sau sản phẩm phải có một hệ thống dữ liệu đủ để xác định nguồn nguyên liệu và các công đoạn trong quá trình sản xuất.
Theo các chuyên gia, tùy mô hình sản xuất, hệ thống truy xuất có thể bao gồm thông tin về vùng trồng, hộ sản xuất, diện tích, giống chè, nhật ký chăm sóc, vật tư nông nghiệp sử dụng, thời điểm thu hái, sản lượng nguyên liệu, cơ sở chế biến, quy trình chế biến, đóng gói, lô sản phẩm và đơn vị phân phối.
Nói cách khác, mỗi lô chè cần có một “hồ sơ” riêng. Khi có vấn đề xảy ra, dữ liệu này giúp cơ quan quản lý, doanh nghiệp và người sản xuất xác định sản phẩm bắt đầu từ đâu, đi qua những công đoạn nào và đang được phân phối ở đâu.
Trong bối cảnh người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến chất lượng, an toàn thực phẩm và xuất xứ, truy xuất nguồn gốc đang trở thành yếu tố quan trọng giúp chè Thái Nguyên nâng cao giá trị, củng cố niềm tin và mở rộng thị trường.
Ngược lại, với những sản phẩm đáp ứng tốt các tiêu chuẩn, dữ liệu truy xuất cũng trở thành một công cụ để chứng minh chất lượng, nâng cao niềm tin của người tiêu dùng và gia tăng giá trị sản phẩm. Đây là điểm đặc biệt quan trọng đối với chè Thái Nguyên - một sản phẩm mà giá trị không chỉ nằm ở sản lượng mà còn ở thương hiệu.
Với những người trồng chè lâu năm, kinh nghiệm canh tác là tài sản quý giá. Tuy nhiên, trong một thị trường ngày càng đề cao tính minh bạch, kinh nghiệm cần được kết hợp với dữ liệu. Người nông dân không chỉ cần biết chăm cây chè khỏe, thu hái đúng thời điểm mà còn phải từng bước hình thành thói quen ghi chép quá trình sản xuất.
Đối với các hợp tác xã, đây là bài toán tổ chức lại vùng nguyên liệu và xây dựng quy trình sản xuất thống nhất.
Còn với doanh nghiệp, truy xuất nguồn gốc là cơ sở để kiểm soát chất lượng đầu vào, quản lý lô hàng, bảo vệ thương hiệu và đáp ứng yêu cầu của các hệ thống phân phối cũng như thị trường xuất khẩu.
Người dân xã Tân Cương, Thái Nguyên chế biến sản phẩm chè.
Nếu mỗi mắt xích đều ghi nhận và chia sẻ dữ liệu chính xác, người tiêu dùng có thể tiếp cận thông tin về sản phẩm một cách thuận tiện hơn. Khi đó, mã QR trên gói chè không còn đơn thuần là một công cụ công nghệ mà trở thành “cánh cửa” để người tiêu dùng nhìn vào toàn bộ quá trình tạo ra sản phẩm.
Trong định hướng phát triển nông nghiệp, cây chè tiếp tục được xác định là một trong những ngành hàng có thế mạnh của Thái Nguyên. Bài toán đặt ra không chỉ là duy trì diện tích hay tăng sản lượng mà quan trọng hơn là nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của sản phẩm.
Để làm được điều đó, việc xây dựng vùng nguyên liệu ổn định, phát triển sản xuất theo tiêu chuẩn, tăng cường liên kết giữa nông dân – HTX – doanh nghiệp và ứng dụng công nghệ số trong quản lý sản xuất là những yêu cầu ngày càng rõ nét. Trong đó, truy xuất nguồn gốc được xem là một trong những nền tảng quan trọng.
Khi người tiêu dùng có thể dùng điện thoại để biết một gói chè được sản xuất từ vùng nào, bởi ai, quy trình chăm sóc ra sao, chế biến ở đâu và phân phối như thế nào, khoảng cách giữa người sản xuất và người tiêu dùng được rút ngắn.
Đó cũng là cách để thương hiệu chè Thái Nguyên được xây dựng bằng những giá trị có thể kiểm chứng, thay vì chỉ dựa vào danh tiếng đã được hình thành qua nhiều năm.
Từ một đồi chè, một hộ dân, một hợp tác xã đến doanh nghiệp và thị trường, mỗi thông tin được ghi nhận hôm nay sẽ trở thành dữ liệu giúp sản phẩm chè đi xa hơn ngày mai. Với chè Thái Nguyên, truy xuất nguồn gốc vì thế không chỉ là yêu cầu của thị trường. Đó còn là “hộ chiếu” để một sản phẩm đặc sản địa phương bước vào những thị trường lớn bằng chất lượng, sự minh bạch và niềm tin của người tiêu dùng.
Bài và ảnh: Nguyễn Ngọc Lâm
Kính mời độc giả đón đọc: Chắp cánh cho “đệ nhất danh trà” Thái Nguyên vươn tầm thế giới - Bài 2: Truy xuất nguồn gốc: “Chìa khóa” nâng giá trị cây chè
