LTS: Từ câu chuyện tại Hợp tác xã chè Hảo Đạt ở bài 2 có thể thấy, truy xuất nguồn gốc đang từng bước làm thay đổi cách người trồng chè tổ chức sản xuất. Đằng sau một mã QR không chỉ là thông tin về sản phẩm, mà còn là cả quá trình ghi chép, kiểm soát từ vùng nguyên liệu, chăm sóc, sử dụng vật tư nông nghiệp đến thu hái, chế biến và đóng gói. Quá trình ấy đòi hỏi người nông dân thay đổi thói quen, hợp tác xã đầu tư nguồn lực và từng bước tiếp cận với công nghệ số.
Tuy nhiên, để truy xuất nguồn gốc không dừng lại ở một yêu cầu trên bao bì hay một công cụ phục vụ quản lý nội bộ, mà thực sự trở thành “chìa khóa” mở rộng thị trường và nâng cao giá trị nông sản, vẫn còn nhiều vấn đề cần được nhìn nhận ở tầm chính sách, tầm nhìn và chiến lược dài hạn. Làm thế nào để xây dựng hệ thống dữ liệu truy xuất thống nhất, dễ sử dụng và có khả năng kết nối? Làm thế nào để người nông dân, hợp tác xã không bị gia tăng bất kỳ gánh nặng nào khi tham gia? Và quan trọng hơn, dữ liệu truy xuất sẽ được khai thác như thế nào để nâng cao chất lượng, xây dựng thương hiệu và đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước cũng như quốc tế?
Từ thực tế đó, Bài 3 của tuyến bài tiếp tục mở rộng câu chuyện từ vùng chè Tân Cương đến góc nhìn của cơ quan quản lý, khoa học và công nghệ. Thông qua cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Tin, Vụ phó Vụ Khoa học và Công nghệ (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), Đời sống & Pháp luật sẽ làm rõ vai trò của truy xuất nguồn gốc trong quá trình chuyển đổi phương thức sản xuất nông nghiệp; những yêu cầu về dữ liệu, công nghệ và tiêu chuẩn để bảo đảm tính minh bạch, chính xác của thông tin; đồng thời phân tích những giải pháp hỗ trợ nông dân, hợp tác xã ứng dụng công nghệ một cách thực chất, phù hợp với điều kiện sản xuất.
Từ một mã QR đến cả chuỗi dữ liệu
Trao đổi với PV Đời sống & Pháp luật, ông Nguyễn Quang Tin, Vụ phó Vụ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, truy xuất nguồn gốc cần được nhìn nhận ở hai cấp độ, vừa là công cụ quản lý chất lượng, vừa là hạ tầng tạo lập niềm tin trên cơ sở dữ liệu. Bản chất của truy xuất nguồn gốc không nằm ở một mã QR, mà ở khả năng chứng minh sản phẩm do ai làm ra, ở đâu, thuộc lô nào và đã trải qua những công đoạn nào từ sản xuất, thu hoạch, thu mua, chế biến, đóng gói đến lưu thông.
“Truy xuất nguồn gốc không làm ra chất lượng. Chất lượng phải được tạo ra từ giống, nguyên liệu, quy trình sản xuất, kiểm soát vật tư đầu vào, chế biến và bảo quản. Truy xuất nguồn gốc giúp minh bạch quá trình đó, phục vụ kiểm soát chất lượng, xác minh nguồn gốc và xác định trách nhiệm khi có vấn đề phát sinh”, ông Tin phân tích.
Trong bối cảnh quy mô thị trường ngày càng lớn, yêu cầu về minh bạch cũng ngày càng cao. Trong 8 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam đạt khoảng 49,3 tỷ USD. Khi nông sản Việt Nam tham gia ngày càng sâu vào các thị trường lớn, yêu cầu đối với doanh nghiệp không còn dừng ở việc chứng minh sản phẩm cuối cùng đạt tiêu chuẩn. Ngày càng nhiều thị trường đòi hỏi khả năng chứng minh cả quá trình tạo ra sản phẩm, nguồn gốc nguyên liệu và trách nhiệm của các chủ thể trong chuỗi.
Ông Nguyễn Quang Tin, Vụ phó Vụ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Đối với sản phẩm OCOP, truy xuất nguồn gốc càng có ý nghĩa bởi giá trị của sản phẩm thường gắn với địa phương, vùng nguyên liệu, tri thức bản địa, phương thức sản xuất và uy tín cộng đồng. Dữ liệu truy xuất khi đó không chỉ cung cấp thông tin cho người tiêu dùng mà còn góp phần bảo vệ thương hiệu, hạn chế gian lận về xuất xứ, hàng giả, hàng nhái và tạo dựng niềm tin lâu dài với thị trường.
“Chất lượng là nền tảng tạo ra giá trị, minh bạch giúp giá trị đó được nhận diện, còn niềm tin của người tiêu dùng và thị trường là điều kiện để giá trị được duy trì và phát triển bền vững”, ông Tin nhấn mạnh.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, truy xuất nguồn gốc không được xác định là một hệ thống công nghệ độc lập mà là một cấu phần của quản lý chất lượng, chuyển đổi số và tổ chức lại chuỗi giá trị nông sản. Do đó, việc triển khai phải đồng bộ từ thể chế, quy trình nghiệp vụ đến dữ liệu và hạ tầng số.
Về thể chế, đến nay, cơ sở chính trị và pháp lý cho truy xuất nguồn gốc đã từng bước được hoàn thiện với Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị định số 37/2026/NĐ-CP, Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP, Quyết định số 808/QĐ-TTg và các văn bản có liên quan. Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng đã ban hành Kế hoạch triển khai truy xuất nguồn gốc nông, lâm, thủy sản tại Quyết định số 25/QĐ-BNNMT ngày 7/01/2026.
Về hạ tầng và dữ liệu, Bộ đã xây dựng và đưa Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản Việt Nam vào vận hành; đồng thời triển khai theo nguyên tắc kế thừa các hệ thống đang có, kết nối và chia sẻ dữ liệu theo chuẩn chung, hướng tới “một lần khai báo, nhiều lần sử dụng”, hạn chế phát sinh thêm thủ tục và tránh đầu tư trùng lặp.
Ông Nguyễn Quang Tin, Vụ phó Vụ Khoa học & Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường trao đổi với PV Đời sống & Pháp luật.
Trọng tâm hiện nay là đi vào từng chuỗi sản phẩm cụ thể để hình thành dữ liệu thực chất, từ vùng sản xuất, lô sản xuất, thu hoạch, thu mua, sơ chế, chế biến, đóng gói, kiểm nghiệm, kiểm dịch khi có yêu cầu đến lưu thông và xuất khẩu. Trong đó, mỗi dữ liệu quan trọng phải xác định được nguồn phát sinh, chủ thể tạo lập và trách nhiệm đối với tính chính xác của dữ liệu.
“Mục tiêu cuối cùng không phải là có thêm nhiều phần mềm hay nhiều mã QR, mà là hình thành được một môi trường dữ liệu minh bạch, trong đó người sản xuất làm đúng được bảo vệ, doanh nghiệp làm thật được ghi nhận, người tiêu dùng có thông tin tin cậy và cơ quan quản lý có công cụ để giám sát, cảnh báo và xử lý rủi ro hiệu quả hơn”, ông Tin cho biết.
Chè Thái Nguyên và giải pháp quản trị thương hiệu, bảo vệ niềm tin thị trường
Chè Thái Nguyên được xem là một trường hợp điển hình cho bài toán truy xuất nguồn gốc khi thương hiệu đã được hình thành mạnh mẽ nhưng chuỗi sản xuất lại có sự tham gia của đông đảo hộ nông dân, cơ sở thu mua và chế biến. Đến hết tháng 6/2026, toàn tỉnh có khoảng 22.200ha chè, sản lượng chè búp tươi trên 127.000 tấn; gần 6.670ha được chứng nhận VietGAP, hữu cơ; 141 mã số vùng trồng được cấp và quản lý; 204 sản phẩm chè đạt OCOP từ 3 đến 5 sao, trong đó có 6 sản phẩm OCOP 5 sao cấp quốc gia.
Những con số này cho thấy tiềm năng lớn của ngành chè Thái Nguyên, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết về bảo vệ thương hiệu bằng chất lượng và dữ liệu.
Theo ông Tin, để xây dựng một chuỗi chè có khả năng truy xuất thực chất, phải duy trì được mối liên hệ xuyên suốt giữa bốn nhóm thông tin: vùng nguyên liệu và người sản xuất; lô sản xuất, lô thu hoạch; quá trình thu mua, chế biến và lô sản phẩm cuối cùng. Trong đó, khâu dễ đứt gãy nhất chính là thu mua và chế biến, khi nguyên liệu của nhiều hộ được tập hợp. Nếu không duy trì được mối liên hệ giữa nguyên liệu đầu vào và sản phẩm đầu ra, đến cuối chuỗi rất khó truy ngược chính xác.
Vùng chè Tân Cương - một trong những "Ngũ đại danh trà" của tỉnh Thái Nguyên.
Từ một gói chè trên thị trường, hệ thống truy xuất phải cho phép xác định được lô chế biến và, trong phạm vi cần thiết, truy ngược về lô nguyên liệu, vùng sản xuất và các chủ thể có liên quan. “Nếu mã QR chỉ dẫn đến thông tin giới thiệu sản phẩm mà không có chuỗi dữ liệu liên kết phía sau thì mới dừng ở cung cấp thông tin, chưa phải truy xuất nguồn gốc đầy đủ”, ông Tin lưu ý.
Một yêu cầu khác được đặt ra là không thể chuyển toàn bộ gánh nặng ghi chép, nhập liệu cho từng hộ nông dân. Với ngành chè, hợp tác xã hoặc doanh nghiệp đầu mối cần đóng vai trò tổ chức vùng nguyên liệu, hướng dẫn quy trình, kiểm soát và tập hợp dữ liệu. Công nghệ phải làm cho việc ghi nhận thông tin đơn giản hơn, thay vì tạo thêm một tầng thủ tục cho người sản xuất.
Qua triển khai thực tế, chuyển biến đáng chú ý là nhận thức về truy xuất nguồn gốc đang dần chuyển từ “tem truy xuất” sang “dữ liệu truy xuất”. Tại Thái Nguyên, các cơ quan của Bộ đã phối hợp với địa phương, doanh nghiệp, hợp tác xã và các đơn vị cung cấp giải pháp để từng bước kết nối, chuẩn hóa dữ liệu. Một số doanh nghiệp, hợp tác xã chè đã tham gia kết nối, thử nghiệm với Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản Việt Nam.
Từ thực tế này, Bộ cho rằng hướng đi phù hợp là gắn truy xuất với tổ chức vùng nguyên liệu, chuẩn hóa quy trình và phân định rõ trách nhiệm dữ liệu của từng chủ thể. Đáng chú ý, một mô hình truy xuất nguồn gốc không nên được đánh giá chỉ bằng số lượng tem QR, số sản phẩm đưa lên hệ thống hay số lượt quét.
Điều quan trọng hơn là khả năng truy vết thực tế. Khi một lô sản phẩm có vấn đề, hệ thống có xác định được đúng lô, đúng nguồn nguyên liệu và đúng chủ thể chịu trách nhiệm hay không? Dữ liệu có được tạo ra ngay tại thời điểm phát sinh hay chỉ được bổ sung sau đó để hoàn thiện hồ sơ? Đây mới là những câu hỏi quyết định chất lượng của một hệ thống truy xuất.
Theo Vụ phó Vụ Khoa học và Công nghệ, mô hình có khả năng nhân rộng cần hội tụ các điều kiện: có doanh nghiệp hoặc hợp tác xã làm đầu mối chuỗi; vùng nguyên liệu tương đối ổn định; quy trình sản xuất được chuẩn hóa; dữ liệu được ghi nhận theo lô; có cơ chế kiểm tra, xác nhận phù hợp và có khả năng kết nối với hệ thống quản lý nhà nước. Khi đó, truy xuất nguồn gốc không còn là hoạt động bổ sung bên ngoài sản xuất mà trở thành một phần của quản trị chất lượng, quản trị thương hiệu và bảo vệ niềm tin của thị trường.
Dữ liệu phải là nền móng của nông nghiệp số và chuyện nhà nông, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học và nhà quản lý cộng hưởng cho mục tiêu phát triển
Đối với trí tuệ nhân tạo (AI), ông Tin cho rằng không nên bắt đầu bằng câu hỏi “sẽ ứng dụng AI gì?”, mà cần bắt đầu bằng câu hỏi “dữ liệu có đúng, đủ và đáng tin cậy hay không”. AI không thể bù đắp cho dữ liệu thiếu, sai hoặc không được chuẩn hóa. Khi có nền tảng dữ liệu tốt, AI mới có thể hỗ trợ nhận diện bất thường, cảnh báo rủi ro, phân tích xu hướng sản lượng, chất lượng, thị trường và hỗ trợ ra quyết định.“Sứ mệnh quan trọng của truy xuất nguồn gốc trong nông nghiệp số là tạo ra một ngôn ngữ dữ liệu chung cho chuỗi sản xuất - thị trường, hướng tới nguyên tắc một dữ liệu được tạo lập đúng thì có thể được sử dụng nhiều lần theo đúng thẩm quyền”, ông Tin nói.
Hợp tác xã chè Hảo Đạt tạo động lực kinh tế cho vùng, giúp giải quyết vấn đề việc làm cho nhiều người dân trong khu vực.
Điều này cũng góp phần giảm chi phí tuân thủ, hạn chế khai báo trùng lặp và nâng cao hiệu quả quản lý. Để thương hiệu chè được nâng đỡ bằng “bằng chứng hiện đại” Chè Thái Nguyên đã có một tài sản quý giá là niềm tin của người tiêu dùng được tích lũy qua nhiều thế hệ. Tuy nhiên, trong bối cảnh thị trường ngày càng cạnh tranh, yêu cầu đặt ra là làm thế nào để niềm tin ấy không chỉ dựa trên danh tiếng mà còn được củng cố bằng thông tin và dữ liệu có thể kiểm chứng.
Khi một sản phẩm chè chứng minh được nguyên liệu đến từ đâu, được sản xuất theo quy trình nào, thuộc lô nào và chủ thể nào chịu trách nhiệm, người tiêu dùng có thêm căn cứ lựa chọn; doanh nghiệp có thêm công cụ bảo vệ thương hiệu; địa phương có thêm cơ sở bảo vệ danh tiếng vùng sản xuất; còn người nông dân làm đúng có cơ hội được thị trường nhận diện rõ hơn.
Đặc biệt, đây là yếu tố quan trọng đối với sản phẩm chất lượng cao, sản phẩm OCOP và các sản phẩm hướng tới những thị trường có yêu cầu nghiêm ngặt. Tuy nhiên, truy xuất nguồn gốc không tự động làm tăng giá bán. Giá trị kinh tế chỉ được hình thành khi truy xuất gắn với chất lượng thực, thị trường, hợp đồng tiêu thụ và cơ chế phân chia lợi ích hợp lý trong chuỗi.
Trong bối cảnh quy mô thị trường ngày càng lớn, yêu cầu về minh bạch đối với các sản phẩm nông nghiệp nói chung và sản phẩm chè nói riêng cũng ngày càng cao.
Vì vậy, thay vì chỉ đặt mục tiêu có bao nhiêu sản phẩm được gắn mã, cần quan tâm bao nhiêu sản phẩm chất lượng được chứng minh bằng dữ liệu và bao nhiêu giá trị của thương hiệu được chuyển hóa thành lợi ích thực tế cho người sản xuất.
Đối với người nông dân, việc ghi nhận thông tin sản xuất không chỉ để đáp ứng yêu cầu quản lý. Đó còn là bằng chứng chứng minh mình đã sản xuất như thế nào và là cơ sở bảo vệ người làm đúng khi xảy ra vấn đề về chất lượng hoặc tranh chấp trên thị trường. Đối với doanh nghiệp và hợp tác xã, truy xuất nguồn gốc không chỉ là công cụ quảng bá. Doanh nghiệp phải tổ chức được dữ liệu của chuỗi, kiểm soát được nguồn nguyên liệu và chịu trách nhiệm về thông tin cung cấp cho khách hàng.
“Niềm tin không thể được tạo ra bằng một mã QR; niềm tin được tạo ra khi thông tin phía sau mã QR là đúng và sản phẩm thực sự có chất lượng như những gì đã cam kết”, ông Tin nhấn mạnh.
Về phía Nhà nước, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành, địa phương hoàn thiện thể chế, chuẩn dữ liệu, hạ tầng dùng chung, cơ chế kết nối và hậu kiểm; tạo môi trường để người sản xuất nghiêm túc, doanh nghiệp có trách nhiệm và sản phẩm chất lượng được bảo vệ.
"Có thể khái quát rất ngắn gọn: chất lượng là gốc; minh bạch là phương thức; niềm tin là tài sản; còn thị trường bền vững là kết quả. Đó cũng là giá trị lâu dài mà truy xuất nguồn gốc cần hướng tới trong nền nông nghiệp hiện đại", ông Tin nói.
Để truy xuất nguồn gốc thực sự trở thành một cấu phần của nông nghiệp số, dữ liệu cần được hình thành ngay từ quá trình sản xuất, kinh doanh và có khả năng được sử dụng lại cho nhiều mục đích. Với ngành chè, điều này đồng nghĩa mỗi vùng trồng, mỗi quy trình chăm sóc, thu hái, chế biến và đóng gói đều cần được ghi nhận, chuẩn hóa và kết nối thành một dòng dữ liệu xuyên suốt.
Khi đó, truy xuất nguồn gốc không chỉ dừng ở việc cung cấp thông tin cho người tiêu dùng, mà còn trở thành công cụ giúp các chủ thể trong chuỗi nâng cao chất lượng, đáp ứng yêu cầu thị trường và từng bước mở rộng thị trường cho sản phẩm chè. Mối liên kết giữa Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã và người nông dân cũng được mở rộng từ liên kết về tổ chức sang liên kết bằng dữ liệu.
Trong chuỗi đó, Nhà nước giữ vai trò xây dựng thể chế, chuẩn dữ liệu, hạ tầng dùng chung và cơ chế kết nối; nhà khoa học cung cấp cơ sở khoa học cho quy trình, tiêu chuẩn chất lượng và công nghệ; doanh nghiệp, hợp tác xã tổ chức chuỗi, kết nối yêu cầu thị trường với vùng nguyên liệu. Còn người nông dân là chủ thể trực tiếp sản xuất, đồng thời là nơi hình thành những dữ liệu gốc quan trọng nhất.
Đây cũng là nền tảng để câu chuyện truy xuất nguồn gốc của chè Thái Nguyên đi xa hơn một mã QR trên bao bì, hướng tới một chuỗi sản xuất minh bạch, có dữ liệu và có khả năng đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước cũng như quốc tế.
Bài và ảnh: Nguyễn Lâm
