Theo BS CKII Hoàng Tiến Hưng (Khoa Nội tiết - Đái tháo đường, Bệnh viện Bạch Mai), trong thực hành lâm sàng, khi gặp một người bệnh khát nhiều, uống nhiều, tiểu nhiều, phản xạ đầu tiên của rất nhiều người là nghĩ đến đái tháo đường. Điều đó đúng, nhưng chưa đủ! Bởi còn một bệnh lý khác cũng có thể biểu hiện rất điển hình với các triệu chứng như vậy. Đó là ĐÁI THÁO NHẠT.
Đái tháo nhạt và đái tháo đường khác nhau hoàn toàn
Đái tháo nhạt và đái tháo đường là hai bệnh hoàn toàn khác nhau về cơ chế bệnh sinh. Nếu đái tháo đường là rối loạn chuyển hóa glucose thì đái tháo nhạt là rối loạn điều hòa nước, do thiếu vasopressin/ADH hoặc do thận giảm đáp ứng với hormon này. Hậu quả là người bệnh mất một lượng lớn nước tự do qua thận, nước tiểu rất loãng, thể tích nhiều, kéo theo khát dữ dội để bù lại phần nước đã mất.
Vì vậy, một người bệnh có thể uống rất nhiều, tiểu rất nhiều, kể cả thức dậy nhiều lần ban đêm, nhưng glucose máu vẫn bình thường. Đây chính là điểm khiến đái tháo nhạt dễ bị bỏ sót nếu thầy thuốc chỉ dừng lại ở việc loại trừ tăng đường huyết mà chưa đi tiếp bước chẩn đoán hội chứng đa niệu nhược trương. Các tài liệu chuyên ngành gần đây cũng nhấn mạnh rằng đái tháo nhạt hiện được tiếp cận chính xác hơn dưới góc nhìn "thiếu vasopressin" hoặc "kháng vasopressin", nhằm tránh nhầm lẫn với đái tháo đường.
Triệu chứng của người bị đái tháo nhạt
Trên lâm sàng, người bệnh đái tháo nhạt thường có tiểu nhiều thực sự, nước tiểu nhạt màu, tỷ trọng thấp, khát nhiều rõ rệt, có xu hướng uống nước liên tục, nhất là nước lạnh. Nhiều trường hợp giảm chất lượng sống rõ vì phải đi tiểu nhiều lần cả ngày lẫn đêm, ngủ gián đoạn, mệt mỏi kéo dài. Ở trẻ nhỏ, bệnh có thể biểu hiện bằng quấy khóc, chậm lớn, mất nước tái diễn hoặc sốt không rõ nguyên nhân.
Về phân loại, cần nghĩ đến ít nhất 4 nhóm chính:
- Đái tháo nhạt trung ương
- Đái tháo nhạt do thận
- Chứng cuồng uống nguyên phát
- Đái tháo nhạt thai kỳ.
Trong đó, đái tháo nhạt trung ương hay gặp sau phẫu thuật vùng tuyến yên, u vùng dưới đồi - tuyến yên, chấn thương sọ não hoặc các bệnh lý viêm, thâm nhiễm. Đái tháo nhạt do thận lại thường liên quan đến bệnh thận, rối loạn điện giải, lithium hoặc nguyên nhân di truyền. Còn ở phụ nữ mang thai, dù hiếm, đái tháo nhạt thai kỳ vẫn là một chẩn đoán không nên bỏ qua, nhất là khi có khát nhiều và đa niệu rõ ở ba tháng cuối thai kỳ.
Sự nguy hiểm của bệnh đái tháo nhạt
Điều khiến bệnh không thể xem nhẹ là nếu không được nhận diện sớm, người bệnh có thể rơi vào tình trạng mất nước nặng và tăng natri máu. Khi cơ chế khát còn nguyên vẹn và người bệnh còn uống được nước, cơ thể có thể bù phần nào. Nhưng ở trẻ nhỏ, người già, người sau mổ, người giảm ý thức hoặc không được tiếp cận nước đầy đủ, đái tháo nhạt có thể nhanh chóng trở thành một cấp cứu nội tiết - điện giải. Những biểu hiện như khô miệng, lừ đừ, mệt lả, lú lẫn, chuột rút, thậm chí co giật trong bối cảnh tiểu rất nhiều luôn phải khiến chúng ta nghĩ tới mất nước tự do và rối loạn natri máu.
Chẩn đoán đái tháo nhạt không dừng ở việc hỏi "có tiểu nhiều hay không", mà phải chứng minh được tình trạng đa niệu nhược trương và phân biệt với các nguyên nhân khác của hội chứng đa niệu - đa khát. Đánh giá thường bao gồm glucose máu, điện giải, áp lực thẩm thấu huyết tương và nước tiểu, tỷ trọng nước tiểu, chức năng thận, calci máu, kali máu; khi cần có thể làm nghiệm pháp chuyên sâu và chụp MRI vùng dưới đồi - tuyến yên. Các tiếp cận mới hiện nay cũng cho thấy copeptin là một công cụ rất hữu ích trong phân biệt thiếu vasopressin với chứng cuồng uống nguyên phát ở những trung tâm có điều kiện triển khai.
Điều trị bệnh thế nào?
Về điều trị, nguyên tắc quan trọng nhất là điều trị đúng cơ chế. Với đái tháo nhạt trung ương, desmopressin là nền tảng. Với đái tháo nhạt do thận, cần xử trí nguyên nhân và tối ưu các biện pháp giúp giảm bài niệu tự do. Với chứng cuồng uống nguyên phát, cách tiếp cận lại hoàn toàn khác. Nhưng ở bất kỳ thể nào, việc tự ý dùng thuốc hoặc tự ép uống quá nhiều nước đều có thể gây hại. Điều trị sai có thể dẫn tới hạ natri máu, trong khi chẩn đoán chậm có thể dẫn tới tăng natri máu và mất nước nặng.
Như vậy khát nhiều, uống nhiều, tiểu nhiều không đồng nghĩa mặc định là đái tháo đường. Khi gặp một bệnh cảnh đa niệu - đa khát, đặc biệt nếu glucose máu không giải thích được triệu chứng, cần nghĩ đến đái tháo nhạt như một chẩn đoán phân biệt quan trọng. Nhận diện đúng bệnh không chỉ giúp điều trị đúng, mà còn giúp tránh những biến chứng nặng nề do mất nước và rối loạn điện giải.
(Ảnh minh hoạ: Internet)
Tuấn Minh
