Chuẩn hóa việc sử dụng chứng chỉ ngoại ngữ
Đánh giá về vấn đề trên, VietNamnet dẫn lời PGS.TS Phạm Thu Hương, Hiệu trưởng Trường Đại học Ngoại thương cho hay, theo quy định về tuyển sinh đại học những năm vừa qua cũng như dự thảo mà Bộ GD&ĐT vừa công bố, các cơ sở giáo dục đại học được tự chủ xây dựng thang quy đổi điểm IELTS cũng như các chứng chỉ đánh giá năng lực trong nước và quốc tế.
“Tuỳ vào mức độ ưu tiên đối với năng lực tiếng Anh, các cơ sở giáo dục đại học có thể xây dựng quy đổi điểm IELTS ở mức cao hay thấp, đồng thời áp dụng các trọng số khác nhau với điểm tiếng Anh trong tổ hợp xét tuyển”, bà Hương nói.
Theo bà Hương, với Trường Đại học Ngoại Thương, về cơ bản, mặt bằng chung năng lực tiếng Anh đầu vào là rất tốt. Hiện, tỷ trọng các chương trình có tính quốc tế cao giảng dạy bằng tiếng Anh chiếm gần 75% chương trình đào tạo cử nhân, trong đó 90,7% thí sinh trúng tuyển đạt 7.0 IELTS trở lên, khoảng 70% đạt 7.5 IELTS trở lên và 30% đạt IELTS 8.0 trở lên.
“Trên cơ sở phân tích dữ liệu tuyển sinh qua nhiều năm, do phần lớn các thí sinh đã đáp ứng rất tốt yêu cầu về năng lực tiếng Anh nên về cơ bản trường không đặt ra cơ chế ưu tiên (không cộng điểm) cho việc sử dụng chứng chỉ IELTS và ban hành thang quy đổi IELTS ở mức thấp so với mặt bằng chung, duy trì ổn định từ năm 2018 đến nay”, bà Hương nói.
PGS.TS Phạm Thu Hương, Hiệu trưởng Trường Đại học Ngoại thương. Ảnh: VietNamnet
Theo bà Hương, trước bối cảnh quốc tế hoá giáo dục diễn ra mạnh mẽ cùng với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ, các cơ sở giáo dục đại học đều mong muốn người học có năng lực tiếng Anh (ngoại ngữ) tốt để có thể học tập và thích ứng được với bối cảnh.
Do đó, tuỳ vào mục tiêu phát triển của từng giai đoạn, yêu cầu của từng ngành đào tạo, yêu cầu đầu vào của từng chương trình, các cơ sở giáo dục đại học có thể đặt mức độ ưu tiên đối với năng lực tiếng Anh khác nhau.
Theo đó, IELTS được sử dụng một cách phù hợp với yêu cầu đầu vào của chương trình đào tạo, ngành đào tạo, mục tiêu phát triển thông qua mức quy đổi điểm và trọng số áp dụng.
“Với cách tiếp cận này, năng lực tiếng Anh được đưa về đúng vai trò trong xét tuyển của từng chương trình, ngành đào tạo, cơ sở giáo dục đại học; đồng thời tránh ghi nhận nhiều lần cho một năng lực. Như vậy, có thể thấy rằng điều chỉnh của Bộ GD&ĐT về sử dụng chứng chỉ IELTS trong xét tuyển đại học theo dự thảo được công bố giúp cho các trường chuẩn hoá và minh bạch hoá phương án xét tuyển của mình, phù hợp với mục tiêu phát triển.
Đồng thời không làm ảnh hưởng tới quyền lợi của các thí sinh so với năm 2026 do việc xét tuyển được thực hiện trong phạm vi của từng trường và theo lựa chọn sử dụng quy đổi IELTS hay trọng số áp dụng của từng trường”, bà Hương nói.
Ảnh: VTC News
Giảm thiểu phương thức xét tuyển hướng tới sự công bằng, minh bạch
Bên cạnh việc chuẩn hóa các chứng chỉ, theo VTC News, mới đây Bộ GD&ĐT vừa tổ chức tọa đàm xin ý kiến góp ý hoàn thiện các dự thảo thông tư liên quan đến tuyển sinh và đào tạo đại học, hôm 25/9.
Bộ công bố danh mục mã số các phương thức xét tuyển dự kiến áp dụng trong tuyển sinh đại học năm 2027.
Theo danh mục được đưa ra, năm 2027 dự kiến 11 phương thức xét tuyển, giảm 8 phương thức so với 19 phương thức được sử dụng trong năm 2026.
Theo Bộ GD&ĐT, việc điều chỉnh danh mục phương thức xét tuyển nằm trong nhóm nội dung được đưa ra lấy ý kiến nhằm hoàn thiện các quy định về tuyển sinh đại học.
Bộ GD&ĐT công bố danh sách 11 phương thức xét tuyển đại học dự kiến năm 2027, giảm 8 phương thức so với năm 2026. Ảnh: Moet
GS.TS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học, cho biết trong giai đoạn 2022-2026, một số điều chỉnh trong tuyển sinh như bỏ xét tuyển sớm, quy đổi tương đương, giới hạn số phương thức, quy định ngưỡng đầu vào và mức điểm cộng tối đa đã được triển khai.
Theo đó, với những kỳ thi có bảng quy đổi chính thức, khoảng cách điểm giữa các kênh xét tuyển và điểm thi tốt nghiệp THPT giảm từ 2,6 xuống 1,2 điểm.
Tuy nhiên, sự tương đương giữa các phương thức vẫn chưa đồng đều. Thống kê cho thấy trong số các chương trình đào tạo sử dụng từ hai phương thức xét tuyển, hơn 40% vẫn có biên độ chênh lệch từ 3 điểm trở lên.
Từ thực tế này, dự thảo tập trung vào việc giảm và chuẩn hóa các phương thức xét tuyển; không sử dụng điểm cộng ngoài điểm ưu tiên theo chính sách; xác định rõ nguồn tuyển và ngưỡng đầu vào; đồng thời hoàn thiện điều kiện dự tuyển liên thông từ trung học nghề, trung cấp, cao đẳng lên đại học.
Theo đại diện Bộ GD&ĐT, tuyển sinh phải đi cùng chuẩn chất lượng, dữ liệu kiểm chứng được và trách nhiệm giải trình. Thí sinh được giảm gánh nặng theo dõi quá nhiều cách xét tuyển, nhưng vẫn được sử dụng các kết quả học tập, thi và chứng chỉ phù hợp theo quy định của từng phương thức.
