Hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp từ ngày 01/01/2026
Theo Cổng thông tin điện tử Bảo hiểm xã hội Việt Nam, từ ngày 01/01/2026, việc giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp được thực hiện theo Luật Việc làm năm 2025 và Nghị định số 374/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp.
Theo Nghị định số 374/2025/NĐ-CP, hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp gồm 3 thành phần cơ bản.
Thứ nhất là đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp theo Mẫu số 10 ban hành kèm theo Nghị định. Đây là văn bản thể hiện nguyện vọng của người lao động về việc hưởng trợ cấp thất nghiệp khi đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.
Thứ hai là giấy tờ xác nhận về việc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc. Các giấy tờ này có thể là hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đã hết hạn hoặc đã hoàn thành công việc theo hợp đồng; quyết định thôi việc, quyết định sa thải, quyết định kỷ luật buộc thôi việc; thông báo hoặc thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc; hoặc văn bản xác nhận của người sử dụng lao động, trong đó thể hiện rõ thông tin người lao động, loại hợp đồng đã ký, lý do và thời điểm chấm dứt hợp đồng.
Đối với trường hợp người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 1 tháng đến dưới 12 tháng, giấy tờ xác nhận chấm dứt hợp đồng là bản chính hoặc bản sao có chứng thực của hợp đồng lao động đã ký. Trường hợp đặc biệt, khi đơn vị sử dụng lao động không còn người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền, người lao động có thể đề nghị Sở Nội vụ thực hiện xác nhận việc chấm dứt hợp đồng lao động theo trình tự, thủ tục được quy định cụ thể tại Nghị định.
Thành phần thứ ba của hồ sơ là sổ BHXH. Cơ quan bảo hiểm xã hội có trách nhiệm xác nhận thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp và trả sổ BHXH cho người lao động trong thời hạn theo quy định, làm căn cứ để giải quyết chế độ trợ cấp thất nghiệp.
Về phương thức nộp hồ sơ, người lao động trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc, nếu chưa có việc làm và có nhu cầu hưởng trợ cấp thất nghiệp, nộp 1 bộ hồ sơ trực tiếp tại tổ chức dịch vụ việc làm công nơi người lao động có nhu cầu nhận trợ cấp thất nghiệp hoặc nộp qua Cổng Dịch vụ công Quốc gia. Trường hợp người lao động gặp khó khăn do ốm đau, thai sản, tai nạn, thiên tai, dịch bệnh hoặc sự kiện bất khả kháng khác, hồ sơ có thể được nộp thông qua người được ủy quyền hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính theo quy định.
Nghị định số 374/2025/NĐ-CP cũng quy định rõ trách nhiệm của tổ chức dịch vụ việc làm công trong việc tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ, hẹn trả kết quả và trình cơ quan có thẩm quyền quyết định việc hưởng trợ cấp thất nghiệp cho người lao động. Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ hoặc chưa rõ thông tin, người lao động sẽ được yêu cầu bổ sung, hoàn thiện để bảo đảm việc giải quyết đúng quy định. Nếu người lao động không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp thì trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Ảnh minh họa
5 trường hợp được bảo lưu thời gian đóng BHTN từ ngày 01/01/2026
Theo Điều 8 Nghị định 374/2025/NĐ-CP, người lao động được bảo lưu thời gian đóng BHTN trong các trường hợp sau:
(1) Đã hưởng trợ cấp thất nghiệp nhưng còn thời gian đóng BHTN chưa được giải quyết hưởng, với điều kiện tổng thời gian đã đóng trên 36 tháng đến đủ 144 tháng; phần thời gian chưa giải quyết hưởng này được bảo lưu để tính cho lần hưởng tiếp theo. Trường hợp đã đóng trên 144 tháng thì phần chưa giải quyết hưởng không được bảo lưu.
(2) Bị hủy quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp; khi đó, toàn bộ thời gian đã đóng BHTN chưa hưởng được bảo lưu.
(3) Đang hưởng trợ cấp thất nghiệp nhưng bị chấm dứt hưởng thuộc các trường hợp pháp luật cho phép bảo lưu; phần thời gian chưa hưởng tiếp tục được bảo lưu.
(4) Không đến nhận tiền trợ cấp thất nghiệp sau 3 tháng kể từ ngày hết thời hạn hưởng, nếu không có thông báo bằng văn bản; số tháng tương ứng với thời gian không nhận tiền được bảo lưu.
(5) Được cơ quan BHXH xác nhận bổ sung thời gian đóng BHTN sau khi đã chấm dứt hưởng trợ cấp; Nghị định quy định cách tính cụ thể để xác định số tháng được bảo lưu, đặc biệt trong trường hợp lần hưởng sau cùng có thời gian đóng dưới 36 tháng.
Ngoài ra, Nghị định khẳng định nguyên tắc chung: mỗi 1 tháng đã hưởng trợ cấp thất nghiệp tương ứng với 12 tháng đã đóng BHTN; thời gian này sẽ bị trừ khi xác định phần còn được bảo lưu.
Trước đây tại Nghị định 28/2015/NĐ-CP, không đặt ra giới hạn tối đa về thời gian được bảo lưu, không liệt kê đầy đủ từng tình huống cụ thể và không có công thức tính trong trường hợp phát sinh thời gian đóng bổ sung. Từ 01/01/2026, quy định mới đã chuẩn hóa toàn bộ các trường hợp được bảo lưu, bổ sung mốc 144 tháng, làm rõ từng tình huống và cách tính./.
