Điểm e khoản 1 Điều 36 Bộ luật Lao động 2019 quy định người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 5 ngày làm việc liên tục trở lên.
Cạnh đó, Điều 125 Bộ luật Lao động quy định hình thức xử lý kỷ luật sa thải được người sử dụng lao động áp dụng trong trường hợp người lao động tự ý bỏ việc 5 ngày cộng dồn trong thời hạn 30 ngày hoặc 20 ngày cộng dồn trong thời hạn 365 ngày tính từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng.
Trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm thiên tai, hỏa hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động.
Ảnh minh họa.
Như vậy, nếu người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 5 ngày làm việc liên tục trở lên thì người sử dụng lao động có thể áp dụng quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.
Còn nếu người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 5 ngày làm việc trở lên nhưng không liên tục nếu có đủ 5 ngày cộng dồn trong thời hạn 30 ngày thì người sử dụng lao động được áp dụng quyền xử lý kỷ luật sa thải.
Khi áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải cần tuân theo trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật lao động tại Điều 70 Nghị định 145/2020/NĐ-CP (quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động).
