Làm giả vé xổ số có thể bị phạt đến 100 triệu đồng
Nghị định số 389/2026/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh xổ số có hiệu lực từ ngày 30/11.
Nghị định quy định mức phạt tiền đối với cá nhân bằng 1/2 lần mức phạt tiền đối với tổ chức cho cùng hành vi vi phạm. Trong đó, mức phạt tiền đối với cá nhân có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh xổ số tối đa là 100 triệu đồng, đối với tổ chức tối đa là 200 triệu đồng.
Cụ thể, kinh doanh xổ số không có Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh bị phạt từ 80-200 triệu đồng; tổ chức nếu thực hiện kinh doanh xổ số không đúng địa bàn bị phạt tiền từ 20-40 triệu đồng.
Nghị định quy định phạt tiền từ 60-100 triệu đồng đối với cá nhân có hành vi cạo sửa, tẩy xóa vé xổ số dưới mọi hình thức để tham gia dự thưởng và lĩnh thưởng. Đặc biệt, phạt tiền từ 80-100 triệu đồng đối với cá nhân có hành vi làm giả vé xổ số dưới mọi hình thức để tham gia dự thưởng và lĩnh thưởng.
Liên quan đến vi phạm bí mật thông tin của khách hàng trúng thưởng, Nghị định quy định phạt tiền từ 10-20 triệu đồng đối với tổ chức có hành vi trả thưởng cho những vé xổ số không đáp ứng đủ điều kiện trả thưởng theo quy định của pháp luật.
Với hành vi cố tình kéo dài thời gian trả thưởng cho khách hàng trúng thưởng, tiêu hủy vé xổ số trúng thưởng đã trả thưởng nhưng lưu trữ chưa đủ thời gian quy định sẽ bị phạt tiền từ 20-40 triệu đồng. Phạt tiền từ 40-60 triệu đồng đối với tổ chức có hành vi vi phạm bí mật thông tin trả thưởng của khách hàng trúng thưởng.
Vé số trúng thưởng bị làm giả. Ảnh: Đình Trọng/Lao động
Về vi phạm về phòng, chống rửa tiền trong lĩnh vực kinh doanh xổ số, số tiền bị phạt cao nhất lên tới 200 triệu đồng. Cụ thể, phạt tiền từ 130-150 triệu đồng đối với hành vi thiết lập hoặc duy trì tài khoản vô danh hoặc tài khoản sử dụng tên giả; cung cấp trái phép dịch vụ nhận tiền mặt, séc, công cụ tiền tệ khác và thực hiện thanh toán cho người thụ hưởng.
Ngoài hình thức phạt tiền, Nghị định còn quy định các hình thức xử phạt bổ sung gồm: Đình chỉ hoạt động kinh doanh xổ số có thời hạn; tịch thu tang vật vi phạm hành chính và phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm...
Quy định về giáo dục bắt buộc
Nghị định 353/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 5 đến 6 tuổi, giáo dục bắt buộc và xóa mù chữ, có hiệu lực từ ngày 1/11/2026.
Theo đó, đối tượng giáo dục tiểu học bắt buộc là trẻ em trong độ tuổi từ 6 đến 14 chưa hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học. Đối tượng giáo dục trung học cơ sở bắt buộc là thanh niên, thiếu niên trong độ tuổi từ 11 đến 18 đã hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học nhưng chưa hoàn thành chương trình giáo dục trung học cơ sở.
Chương trình giáo dục tiểu học, trung học cơ sở bắt buộc là chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học, trung học cơ sở do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.
Nghị định đặt ra tiêu chuẩn công nhận đối với cấp xã: Tỷ lệ trẻ em 6 tuổi vào lớp 1 đạt ít nhất 98%; tỷ lệ trẻ em 11 tuổi hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học đạt ít nhất 95%, đối với xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn đạt ít nhất 85%; tỷ lệ trẻ em 14 tuổi hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học đạt 100%; tỷ lệ trẻ em khuyết tật trong độ tuổi tiểu học và có khả năng học tập được tiếp cận giáo dục đạt ít nhất 60%. Đối với cấp tỉnh, có ít nhất 95% số xã được công nhận đạt chuẩn giáo dục tiểu học bắt buộc mức độ hoàn thành.
Về tiêu chuẩn công nhận giáo dục trung học cơ sở bắt buộc, cấp xã phải bảo đảm tiêu chuẩn công nhận đạt chuẩn giáo dục tiểu học bắt buộc mức độ hoàn thàn; tỷ lệ thanh niên, thiếu niên trong độ tuổi từ 15 đến 18 hoàn thành chương trình giáo dục trung học cơ sở đạt ít nhất 95%, đối với xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn đạt ít nhất 90%; tỷ lệ thanh niên 18 tuổi hoàn thành chương trình giáo dục trung học cơ sở đạt 100%; tỷ lệ người khuyết tật trong độ tuổi trung học cơ sở và có khả năng học tập được tiếp cận giáo dục đạt ít nhất 60%. Đối với cấp tỉnh, có ít nhất 95% số xã được công nhận đạt chuẩn giáo dục trung học cơ sở bắt buộc mức độ hoàn thành.
Thay đổi thủ tục hưởng trợ cấp mai táng đối với cựu chiến binh
Thông tư 21/2026/TT-BNV của Bộ Nội vụ sửa đổi, bổ sung hướng dẫn thực hiện chế độ, chính sách đối với cựu chiến binh, có hiệu lực từ ngày 10/11/2026.
Theo quy định mới, hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp mai táng gồm bản khai giải quyết chế độ, giấy chứng tử hoặc trích lục khai tử và giấy tờ xác nhận người đã mất là cựu chiến binh. Trường hợp thông tin khai tử có thể khai thác từ cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin thì không cần nộp giấy tờ này.
Người đề nghị có thể nộp hồ sơ trực tiếp, qua dịch vụ bưu chính hoặc trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia đến UBND cấp xã nơi cựu chiến binh thường trú trước khi mất.
Trong thời hạn 5 ngày kể từ khi nhận đủ hồ sơ, UBND cấp xã kiểm tra, xác nhận bản khai và chuyển hồ sơ đến Sở Nội vụ. Trong 7 ngày làm việc kể từ khi tiếp nhận đủ hồ sơ, Sở Nội vụ kiểm tra và ban hành quyết định giải quyết chế độ theo quy định.
Điều chỉnh định mức sử dụng xe ô tô công
Nghị định số 379/2026/NĐ-CP ngày 2/10/2026 của Chính phủ quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô trong cơ quan, tổ chức và đơn vị sự nghiệp công lập, có hiệu lực từ ngày 16/11/2026.
Nghị định thiết lập các khung giá trần cụ thể nhằm kiểm soát chặt chẽ chi phí mua sắm tài sản công. Cụ thể, mức giá tối đa đối với xe phục vụ công tác chung là 950 triệu đồng/xe (hoặc 1,3 - 1,6 tỷ đồng đối với xe nhiều chỗ ngồi, xe 2 cầu), và từ 3,5 - 4,8 tỷ đồng đối với xe trang bị cho nhiệm vụ đặc thù.
Nghị định cũng khuyến khích tài chính xanh khi cho phép xe thân thiện môi trường có mức giá tối đa bằng 120% xe thông thường. Đồng thời, việc đẩy mạnh cơ chế khoán kinh phí sử dụng xe, thuê dịch vụ vận tải và yêu cầu rà soát, xử lý dứt điểm xe dôi dư trong thời hạn 12 tháng giúp các cơ quan nhà nước tiết kiệm đáng kể chi phí vận hành, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn ngân sách.
Thay đổi quy định về họp Ban đại diện cha mẹ học sinh
Nghị định 392/2026/NĐ-CP của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung các Nghị định có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực an ninh, trật tự, có hiệu lực từ ngày 15/11/2026.
Ảnh minh họa/Thanh Niên
Theo đó, các cơ sở lưu trú, nhà nghỉ, khách sạn phải kiểm tra một trong các giấy tờ tùy thân của khách trước khi bố trí lưu trú. Các giấy tờ là: Thẻ căn cước, căn cước công dân, hộ chiếu, thẻ thường trú hoặc thẻ tạm trú của người nước ngoài, giấy tờ nhân thân khác có ảnh do cơ quan quản lý nhà nước Việt Nam cấp.
So với quy định trước đây tại Nghị định 96/2016/NĐ-CP, quy định mới bổ sung thẻ căn cước và không còn liệt kê chứng minh nhân dân.
Trường hợp khách không có giấy tờ tùy thân, sau khi bố trí khách vào phòng nghỉ, cơ sở lưu trú phải thông báo ngay cho Công an cấp xã hoặc đồn Công an quản lý địa bàn để phối hợp.
Bãi bỏ một số quy định về cấp bù lãi suất tín dụng ưu đãi
Thông tư số 147/2026/TT-BTC ngày 5/10/2026 của Bộ Tài chính có hiệu lực từ ngày 20/11/2026, bãi bỏ toàn bộ hoặc một phần các thông tư hướng dẫn về hỗ trợ lãi suất, cấp bù chênh lệch lãi suất và cấp bù lãi suất đối với các chính sách tín dụng ưu đãi của Nhà nước.
Theo đó, hai thông tư ban hành năm 2000 và 2001 bị bãi bỏ toàn bộ; một số điều khoản, thủ tục và biểu mẫu tại bảy thông tư khác cũng được bãi bỏ. Việc rà soát nhằm đồng bộ hóa quy định về quản lý tài chính công và cơ chế cấp bù lãi suất từ ngân sách nhà nước.
Sửa đổi quy định về hoạt động thông tin tín dụng
Thông tư số 46/2026/TT-NHNN ngày 9/9/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 15/2023/TT-NHNN về hoạt động thông tin tín dụng, có hiệu lực từ ngày 1/11/2026.
Văn bản cập nhật phạm vi điều chỉnh đối với các ngân hàng thành viên, tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam. Đồng thời, thông tư quy định yêu cầu về sự đồng ý rõ ràng, có thể kiểm chứng của khách hàng đối với hoạt động cung cấp thông tin tín dụng cho Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam (CIC) và các tổ chức liên quan.