Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho biết, trên phạm vi toàn cầu, tuyến trùng ký sinh thực vật (những loài giun tròn siêu nhỏ 0,5–2 mm sống trong đất) được xếp vào nhóm dịch hại nguy hiểm hàng đầu đối với cây trồng, gây thất thoát khoảng 12,3% sản lượng cây trồng mỗi năm, tương đương thiệt hại kinh tế ước tính hơn 157 tỷ USD.
Một nghiên cứu điều tra đánh giá của các nhà khoa học Việt Nam thực hiện trong 2 năm 2024, 2025 đã tìm ra cách bảo vệ cho cây lúa.
Đây là nghiên cứu thuộc Chương trình Điều tra cơ bản cấp Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam mang tên "Điều tra đánh giá tuyến trùng ký sinh cây lúa ở vùng đồng bằng sông Hồng" (mã số UQĐTCB.07/24-25) do PGS.TS. Trịnh Quang Pháp và nhóm nghiên cứu Viện Sinh học thực hiện.
Các nhà khoa học đã tiến hành khảo sát tại 6 tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng, thu thập hàng trăm mẫu đất và rễ lúa trên các cánh đồng.
Trong phòng thí nghiệm, các mẫu được tách lọc, quan sát dưới kính hiển vi và kết hợp phân tích ADN để xác định chính xác từng loài.
Kết quả, nhóm nghiên cứu ghi nhận 48 loài tuyến trùng ký sinh thực vật trên cây lúa. Đây là dữ liệu cho thấy mức độ đa dạng đáng chú ý của nhóm sinh vật gây hại này trong hệ sinh thái lúa nước ở đồng bằng sông Hồng.
Đáng chú ý, nghiên cứu đã phát hiện và mô tả 2 loài mới cho khoa học, gồm Hirschmanniella namdinhensis và Aphelenchoides vinhphucensis.
Bên cạnh đó, nhóm cũng lần đầu ghi nhận 3 loài tuyến trùng ký sinh trên lúa tại Việt Nam.
Xác định 3 nhóm có nguy cơ gây hại lớn
Nghiên cứu đồng thời xác định 3 loài được đánh giá có nguy cơ gây hại lớn đối với lúa tại đồng bằng sông Hồng, gồm: Hirschmanniella oryzae, H. mucronata và tuyến trùng sần rễ Meloidogyne graminicola.
Đáng chú ý, nhóm nghiên cứu nhận thấy sự thay đổi phương thức canh tác có thể tác động đến quần xã tuyến trùng.
Trong đó, việc chuyển từ hình thức ruộng ngập nước truyền thống sang tưới luân phiên có thể tạo điều kiện để một số nhóm tuyến trùng thích nghi và gia tăng.
PGS.TS. Trịnh Quang Pháp cho biết nghiên cứu không chỉ giúp nhận diện thành phần tuyến trùng ký sinh trên lúa ở đồng bằng sông Hồng mà còn cung cấp bằng chứng khoa học về sự thay đổi quần xã tuyến trùng dưới tác động của điều kiện canh tác và môi trường.
Theo nhóm nghiên cứu, những kết quả này giúp làm rõ nguy cơ của từng nhóm tuyến trùng theo vùng sinh thái, từ đó tạo cơ sở cho các nghiên cứu và biện pháp quản lý phù hợp.
Từ dữ liệu khoa học đến cảnh báo sớm trên đồng ruộng
Một trong những giá trị thực tiễn đáng chú ý của nghiên cứu là nhóm đã xây dựng bộ dữ liệu khoa học cho 10 loài tuyến trùng ký sinh lúa quan trọng.
Bộ dữ liệu bao gồm đặc điểm nhận dạng, hình ảnh hiển vi, dữ liệu ADN và thông tin phân bố.
Trên cơ sở đó, nhóm xây dựng sổ tay nhận dạng, bản đồ phân bố các loài gây hại chính, bộ mẫu chuẩn phục vụ giám định và báo cáo đánh giá nguy cơ dịch hại.
Đây là những dữ liệu có ý nghĩa trực tiếp đối với công tác điều tra và giám sát dịch hại. Thay vì chỉ nhận biết tuyến trùng khi cây lúa đã có biểu hiện bất thường, cơ quan chuyên môn có thêm công cụ để xác định chính xác loài, theo dõi sự phân bố và chủ động cảnh báo nguy cơ.
Nhóm nghiên cứu cũng đề xuất quản lý tuyến trùng theo hướng bền vững, kết hợp điều chỉnh phương thức canh tác, quản lý nước phù hợp và tăng cường sử dụng các chế phẩm sinh học nhằm hạn chế sự phát triển của tuyến trùng.
Theo các nhà khoa học, cách tiếp cận này có ý nghĩa trong bối cảnh sản xuất lúa đang thay đổi do biến đổi khí hậu, thay đổi giống và phương thức canh tác.
Theo PGS.TS. Trịnh Quang Pháp, nhóm nghiên cứu sẽ tiếp tục đánh giá khả năng gây hại của các loài tuyến trùng mới ghi nhận, xác định ngưỡng gây hại kinh tế của những nhóm tuyến trùng chủ yếu và mở rộng điều tra trên phạm vi miền Bắc.
Đây là bước quan trọng để chuyển từ việc "biết có tuyến trùng" sang xác định rõ khi nào tuyến trùng bắt đầu gây thiệt hại đáng kể và cần can thiệp ở mức độ nào.
Việc hoàn thiện cơ sở dữ liệu, xác định vùng phân bố và ngưỡng gây hại sẽ giúp ngành nông nghiệp có thêm căn cứ khoa học để giám sát, cảnh báo và lựa chọn biện pháp phòng trừ phù hợp.
*Theo tư liệu: Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Minh Khang
