Nếu đã từng mua thêm một món đồ chỉ để đủ điều kiện được miễn phí vận chuyển, gom cả loạt sản phẩm dù chưa thực sự cần chỉ vì chúng đang giảm giá, hay cố chi thêm để được nhận mức ưu đãi lớn hơn, rất có thể bạn đang rơi vào bẫy tiết kiệm “spaving”.
Spaving là gì?
Spaving là cách ghép giữa “spending” (chi tiêu) và “saving” (tiết kiệm), dùng để chỉ việc chi thêm tiền với suy nghĩ rằng mình đang tiết kiệm. Chẳng hạn, thay vì trả phí vận chuyển 5 USD (khoảng 133.000 đồng), bạn mua thêm 30 USD (khoảng 795.000 đồng) hàng hóa không nằm trong kế hoạch ban đầu để được miễn phí giao hàng. Về lý thuyết, bạn vừa tiết kiệm được phí ship, nhưng trên thực tế lại chi thêm một khoản tiền đáng kể.
Tiến sĩ Charles Chaffin - Giáo sư tại Đại học bang Iowa và CEO của công ty tư vấn tâm lý tài chính Money & Risk Inventory, cho rằng vấn đề nằm ở việc người tiêu dùng dễ tập trung vào số tiền mình tiết kiệm được thay vì số tiền thực sự đã chi.
Theo ông, khi đó mục tiêu mua sắm ban đầu bị thay đổi. Thay vì đưa ra quyết định dựa trên nhu cầu thực tế, người mua bắt đầu coi việc săn được ưu đãi như một “chiến thắng”. Các chương trình khuyến mãi được thiết kế rất tốt để hướng sự chú ý của khách hàng khỏi món đồ họ định mua và chuyển sang cảm giác đang có một “món hời”.
Vì sao nhiều người dễ rơi vào bẫy spaving?
Lý do đầu tiên là tâm lý sợ mất mát. Con người thường cảm nhận một khoản mất mát mạnh hơn so với niềm vui từ một khoản lợi ích tương đương. Vì thế, khi nhìn thấy một chương trình chỉ áp dụng trong thời gian ngắn, người mua có thể cảm thấy mình đang “bỏ lỡ” cơ hội tiết kiệm nếu không xuống tiền, dù ban đầu họ chẳng có ý định mua món đồ đó.
Tiếp theo là “nỗi đau khi trả tiền”. Khi phải bỏ tiền ra, người tiêu dùng thường có cảm giác khó chịu nhất định. Tuy nhiên, các chương trình khuyến mãi có thể khiến cảm giác này giảm xuống. Thay vì nghĩ “mình vừa chi thêm 30 USD (khoảng 795.000 đồng)”, người mua lại chú ý đến việc “mình vừa tiết kiệm được 10 USD (khoảng 265.000 đồng)”.
Một lý do khác là hiệu ứng chênh lệch giá. Các cửa hàng thường đặt giá gốc đã gạch bỏ ngay cạnh mức giá khuyến mãi. Điều này khiến người mua chú ý đến khoản chênh lệch giữa hai mức giá và cảm thấy món hàng đang có giá trị hơn thực tế, ngay cả khi họ vốn không có nhu cầu mua.
Ngoài ra, yếu tố khan hiếm cũng được tận dụng rất hiệu quả. Đồng hồ đếm ngược, ưu đãi chỉ trong một ngày hay thông báo “sắp hết thời gian” khiến khách hàng phải đưa ra quyết định nhanh hơn, đồng nghĩa với việc họ có ít thời gian hơn để cân nhắc xem món đồ đó có thực sự phù hợp với ngân sách hay mục tiêu tài chính của mình hay không.
Tiến sĩ Charles Chaffin nhận định những yếu tố này có thể “đánh cắp” quá trình ra quyết định, khiến người mua chuyển trọng tâm từ câu hỏi “Tôi có cần món đồ này không?” sang “Tôi có đang mua được giá hời không?”.
Tất nhiên, không phải mọi chương trình giảm giá đều là một quyết định tài chính tồi. Mark Sanaiha - Chuyên gia hoạch định tài chính, nhà sáng lập Macallen Capital, cho rằng mua số lượng lớn vẫn có thể giúp tiết kiệm nếu đó là những sản phẩm người tiêu dùng đã có kế hoạch mua từ trước và chắc chắn sẽ sử dụng hết.
Ngược lại, nếu chương trình khuyến mãi khiến bạn phát sinh một giao dịch vốn không tồn tại trước đó, thì theo Sanaiha, đó không còn là một khoản tiết kiệm mà đã trở thành một khoản chi mới.
Để tránh rơi vào bẫy “spaving”, Chaffin khuyên người tiêu dùng chủ động tạo ra một chút khoảng dừng trước khi thanh toán, tức là khiến quá trình mua hàng chậm lại đủ lâu để bản thân có cơ hội suy nghĩ. Một danh sách mua sắm viết tay, việc xóa thông tin thẻ ngân hàng đã lưu trên các website bán lẻ hay đơn giản là tự nhắc mình về một mục tiêu tài chính dài hạn trước khi bấm thanh toán đều có thể giúp hạn chế những quyết định mua hàng bốc đồng.
Bởi cuối cùng, một món đồ giảm giá 50% nhưng bạn không cần đến vẫn có thể khiến ví tiền mất đi 50% giá trị của món đồ đó. Tiết kiệm thực sự không nằm ở việc mua được nhiều thứ với giá thấp hơn, mà là chỉ chi tiền cho những thứ bạn vốn đã cần mua.
(Nguồn: CNBC)
Ngọc Linh
