Châu Âu đang đặt cược lớn vào điện gió để giảm phụ thuộc năng lượng nhập khẩu, nhưng bài học khắc nghiệt từ thời tiết lạnh giá ở Mỹ đang khiến kế hoạch này đối mặt với thực tế phũ phàng: Nguồn điện đáng tin cậy, có thể vận hành liên tục vẫn cực kỳ quan trọng, đặc biệt trong những lúc khẩn cấp.
Cuối tháng 1/2026, 9 quốc gia châu Âu gồm Anh, Ireland, Đức, Na Uy, Hà Lan, Pháp, Iceland, Bỉ và Luxembourg đã công bố kế hoạch xây dựng chung 100 GW công suất điện gió ngoài khơi.
Họ sẽ cùng phát triển các dự án lớn, chia sẻ sản lượng điện từ turbine gió để tăng nguồn điện nội địa, giảm mua khí đốt nhập khẩu – chủ yếu là khí tự nhiên. Đây là bước đi mạnh mẽ nhằm tự chủ năng lượng hơn, đặc biệt sau 4 năm châu Âu cố gắng cắt giảm phụ thuộc nhập khẩu.
Tuy nhiên, ngay lúc châu Âu tăng tốc "cược" vào gió thì bên kia Đại Tây Dương, Mỹ đang trải qua đợt lạnh khắc nghiệt cực độ. Thời tiết khắc nghiệt đã phơi bày rõ ràng hạn chế của năng lượng tái tạo.
Ở bang New England (đông bắc nước Mỹ), dầu mỏ bất ngờ trở thành nguồn điện chính, chiếm tới 1/3 lượng điện sản xuất vào ngày 26/1, thậm chí có lúc lên 40%. Trong khi đó, gió và mặt trời chỉ đóng góp khoảng 6%. Ở bang Texas, trước cơn bão, nhà điều hành lưới ERCOT đã dự báo gió gần như không phát điện được vì lạnh có thể làm offline tới 60% công suất gió (hiện khoảng 40,6 GW). Mặt trời thì hầu như vô dụng trong thời tiết tuyết rơi.
Kết quả là các nhà máy khí đốt, hạt nhân và thậm chí than đá phải tăng tốc để đáp ứng nhu cầu điện vọt lên.
Tình hình Mỹ cho thấy rõ ràng: Công suất điện nền tảng (baseload) – loại điện luôn sẵn sàng, không phụ thuộc thời tiết – rất quan trọng trong khủng hoảng.
Khí đốt, than, hạt nhân và dầu mỏ là nguồn baseload điển hình. Gió và mặt trời thì không, dù có pin lưu trữ hay hàng chục đường dây kết nối lưới (như kế hoạch cho 100 GW gió Bắc Hải).
Châu Âu hiểu rõ động cơ của mình rằng hầu hết các nước không có đủ tài nguyên baseload nội địa hoặc không muốn khai thác (như Đức có than lignite dồi dào nhưng không phát triển vì chính sách môi trường). Do đó, họ phụ thuộc nặng vào nhập khẩu, đặc biệt từ Mỹ – năm 2025 khí hóa lỏng (LNG) Mỹ chiếm 57% nhập khẩu LNG của EU và Anh, chiếm 1/4 tổng nhập khí.
Từ năm sau, sự phụ thuộc vào Mỹ sẽ tăng mạnh hơn vì EU chính thức cấm mọi khí đốt Nga từ tháng 1/2027, dù Hungary và Slovakia phản đối vì cần khí rẻ cho công nghiệp và dân sinh. Thậm chí các nước Tây Âu ủng hộ lệnh cấm vẫn mua kỷ lục LNG Nga năm 2025, khiến EU trở thành khách hàng lớn nhất của Nga về khí hóa lỏng.
Việc xây thêm hàng loạt gió – nhiều hơn hiện tại dọc bờ biển châu Âu – chưa hẳn là giải pháp tốt nhất cho an ninh năng lượng, như tình hình Mỹ vừa chứng minh.
Một cách tiếp cận hiệu quả hơn có lẽ là cam kết cung cấp dài hạn khí đốt và dầu mỏ từ nhiều nguồn đa dạng, thay vì chỉ dựa vào gió biến động. Châu Âu đang học bài học lạnh giá: Chuyển dịch năng lượng cần cân bằng giữa tham vọng xanh và thực tế đáng tin cậy của lưới điện.
Trang Ly
