Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Từ thời khắc ấy, dân tộc Việt Nam giành lại một quyền thiêng liêng - quyền tự quyết định vận mệnh của mình.
Nhưng độc lập chưa bao giờ là đích đến cuối cùng. Ngay từ buổi đầu lập quốc, khát vọng độc lập đã gắn với tự do, hạnh phúc và cuộc sống tốt đẹp hơn của nhân dân. Sau khi đất nước thống nhất, lịch sử đặt ra một câu hỏi mới: Làm thế nào để một dân tộc đã giành được độc lập có thể phát triển và trở nên hùng cường?
Đổi mới năm 1986 là câu trả lời mang tính lịch sử.
41 năm nhìn lại, điều kỳ diệu không chỉ là Việt Nam đã giàu hơn, hiện đại hơn và hội nhập sâu rộng hơn. Điều quan trọng hơn là quỹ đạo phát triển của cả một quốc gia đã thay đổi. Từ quyền tự quyết dân tộc giành được năm 1945, Việt Nam từng bước hình thành năng lực tự lựa chọn và kiến tạo con đường phát triển của mình. Đó chính là chiều sâu lịch sử của Đổi mới.
41 năm đất nước đã thay đổi
Muốn hiểu tầm vóc của Đổi mới, trước hết phải nhớ Việt Nam đã bắt đầu từ đâu. Giữa những năm 1980, nền kinh tế đứng trước những khó khăn gay gắt: sản xuất trì trệ, hàng hóa thiếu thốn, lạm phát rất cao, đời sống nhân dân khó khăn. Việt Nam vẫn là một nước nghèo, chủ yếu dựa vào nông nghiệp, khả năng tích lũy thấp, kết cấu hạ tầng yếu và quan hệ kinh tế với thế giới còn hạn chế.
41 năm sau, đất nước đã mang một diện mạo khác. Từ một quốc gia từng phải lo bảo đảm lương thực, Việt Nam trở thành một trong những nước xuất khẩu hàng đầu thế giới đối với nhiều mặt hàng nông sản. Từ một nền kinh tế tương đối khép kín, Việt Nam đã trở thành một mắt xích ngày càng quan trọng trong các mạng lưới sản xuất, thương mại và đầu tư toàn cầu. Quy mô nền kinh tế tăng lên hàng trăm tỷ USD; thu nhập bình quân đầu người tăng nhiều lần; hàng chục triệu người thoát nghèo. Những tuyến cao tốc, cảng biển, sân bay, khu công nghiệp, đô thị và hạ tầng số đang tạo nên một không gian phát triển mà vài thập niên trước khó hình dung.
Nhưng ý nghĩa của những thành tựu ấy không chỉ nằm ở các con số. Đằng sau GDP là việc làm và sinh kế. Đằng sau những con đường là khả năng kết nối với thị trường và cơ hội phát triển. Đằng sau hội nhập quốc tế là khả năng tiếp cận vốn, công nghệ, tri thức và những chuẩn mực tiên tiến của thế giới.
Quan trọng hơn, Đổi mới đã mở rộng chân trời cơ hội của con người Việt Nam. Người nông dân có thể tham gia chuỗi giá trị toàn cầu; doanh nghiệp Việt Nam có thể đầu tư ra thế giới; người trẻ Việt Nam có thể học tập, làm việc và sáng tạo trong một không gian rộng lớn hơn rất nhiều so với các thế hệ trước.
Đó chính là một ý nghĩa sâu xa của phát triển: mở rộng những lựa chọn và cơ hội mà con người có thể có trong cuộc đời mình. Những thành tựu ấy cho thấy Việt Nam đã thay đổi đến mức nào. Nhưng câu hỏi quan trọng hơn vẫn là: Điều gì đã làm nên sự thay đổi ấy?
Đằng sau thành tích là một cuộc đổi mới tư duy và thể chế
Nếu phải tìm nguồn lực đầu tiên làm nên thành công của Đổi mới, có lẽ đó không phải là vốn, tài nguyên hay lao động giá rẻ. Nguồn lực đầu tiên được giải phóng chính là tư duy.
Đại hội VI năm 1986 trở thành dấu mốc lịch sử bởi đất nước đã dũng cảm nhìn thẳng vào thực tiễn, nhận diện những bất cập của cơ chế cũ và thay đổi cách nghĩ về phát triển.
Từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, nền kinh tế từng bước chuyển sang vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ chỗ Nhà nước phân bổ phần lớn nguồn lực, vai trò của thị trường ngày càng được thừa nhận. Từ nền kinh tế tương đối khép kín, Việt Nam lựa chọn mở cửa và hội nhập. Từ chỗ chưa đánh giá đầy đủ vai trò của kinh tế tư nhân, chúng ta ngày càng nhìn nhận đây là một động lực quan trọng của nền kinh tế.
Nhìn lại, có thể thấy một chuỗi nhân quả rất rõ: Tư duy thay đổi mở đường cho thể chế thay đổi; thể chế thay đổi giải phóng nguồn lực; nguồn lực được giải phóng tạo ra phát triển.
Khoán trong nông nghiệp là một minh chứng điển hình. Khi người nông dân có động lực gắn với kết quả lao động, sức sản xuất được giải phóng. Khi quyền tự chủ kinh doanh được mở rộng, hàng triệu hộ kinh doanh và doanh nghiệp ra đời. Khi cánh cửa hội nhập được mở, vốn, công nghệ, thị trường và tri thức của thế giới trở thành nguồn lực cho phát triển Việt Nam.
Điều đáng suy ngẫm là nhiều nguồn lực làm nên thành công ấy vốn đã tồn tại từ trước. Người nông dân vẫn ở đó. Tinh thần kinh doanh vẫn ở đó. Sức lao động và khát vọng vươn lên vẫn ở đó. Điều thay đổi căn bản là thể chế đã tạo ra không gian và động lực để những nguồn lực ấy được phát huy.
Bài học vì thế rất sâu sắc: Thể chế không tạo ra của cải thay con người. Thể chế tốt tạo ra không gian, cơ hội và động lực để con người tạo ra của cải.
Ở giai đoạn đầu, Đổi mới thường được diễn tả bằng 2 chữ “cởi trói” cho sức sản xuất. Nhưng khi nền kinh tế lớn lên, chỉ cởi trói không còn đủ. Một nền kinh tế hiện đại cần những thị trường hiện đại; doanh nghiệp muốn lớn cần môi trường kinh doanh minh bạch và có khả năng dự báo; đổi mới sáng tạo cần quyền tài sản được bảo đảm và cạnh tranh lành mạnh; hội nhập sâu rộng đòi hỏi pháp luật và quản trị phải vươn tới những chuẩn mực cao hơn.
Bởi vậy, logic của Đổi mới tất yếu phải tiến thêm một bước: Từ “cởi trói” sang kiến tạo phát triển.
Nhà nước không thể và không cần làm thay thị trường hay doanh nghiệp. Giá trị lớn nhất Nhà nước có thể tạo ra là một trật tự thể chế tốt, một môi trường thuận lợi và những năng lực công mà từng cá nhân hay doanh nghiệp riêng lẻ không thể tự tạo ra. Nhìn dưới góc độ ấy, cải cách thể chế và quản trị không phải câu chuyện đứng bên cạnh thành tựu kinh tế. Chúng nằm ngay trong căn nguyên của những thành tựu ấy.
Và đây có lẽ là sự thay đổi sâu sắc nhất: Việt Nam không chỉ tìm được những động lực mới để phát triển, mà từng bước học được cách tạo ra động lực phát triển mới bằng chính sự đổi mới tư duy và thể chế của mình.
Nếu năm 1986, nhiệm vụ cấp thiết là giải phóng sức sản xuất, thì hôm nay câu hỏi đã ở một tầm cao hơn: Làm thế nào để giải phóng sức sáng tạo và kiến tạo năng lực phát triển của cả quốc gia? Chính câu hỏi ấy đang mở ra chương tiếp theo của hành trình Đổi mới.
Thành tựu sâu xa nhất: năng lực tự đổi mới
Nếu chỉ nhìn Đổi mới như một tập hợp những chính sách được khởi xướng năm 1986, sẽ khó lý giải tại sao động lực của nó có thể kéo dài hơn bốn thập niên. Giá trị sâu xa hơn nằm ở chỗ: Đổi mới từng bước trở thành năng lực tự điều chỉnh và tự làm mới của quốc gia.
Trong 41 năm qua, mô hình phát triển của Việt Nam không đứng yên. Từ khoán trong nông nghiệp đến phát triển kinh tế tư nhân; từ mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài đến chủ động hội nhập quốc tế; từ cải cách hành chính đến xây dựng Nhà nước pháp quyền; từ tăng trưởng dựa nhiều vào vốn, lao động và tài nguyên đến ngày càng coi trọng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số – mỗi bước tiến đều phản ánh khả năng điều chỉnh tư duy trước những đòi hỏi mới của thực tiễn.
Có thể nhìn thấy ở đây một vòng tuần hoàn của Đổi mới: Thực tiễn thay đổi → nhận thức thay đổi → chính sách thay đổi → thể chế thay đổi → những nguồn lực mới được giải phóng.
Những cải cách mạnh mẽ trong những năm gần đây về tổ chức bộ máy, phân cấp, phân quyền, hoàn thiện thể chế, phát triển kinh tế tư nhân, khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và nâng cao năng lực thực thi cho thấy vòng tuần hoàn ấy đang tiếp tục vận động.
Đây là một tài sản vô hình nhưng vô cùng quý giá. Nhà máy có thể cũ đi. Công nghệ có thể trở nên lạc hậu. Lợi thế lao động giá rẻ rồi sẽ mất. Nhưng một quốc gia có khả năng nhận biết giới hạn của chính mình, học hỏi, điều chỉnh và tiếp tục cải cách thì luôn có khả năng tạo ra những nguồn lực phát triển mới. Bởi vậy, thành tựu có ý nghĩa lịch sử của 41 năm Đổi mới không chỉ nằm ở những gì Việt Nam đã tạo dựng được, mà còn ở năng lực tiếp tục thay đổi chính mình.
Một quốc gia thực sự làm chủ số phận phát triển khi quốc gia ấy có năng lực không ngừng tự đổi mới.
Từ khát vọng độc lập đến khát vọng hùng cường
Nhìn lại lịch sử hiện đại của đất nước, có thể thấy 3 thời điểm với 3 câu hỏi lớn. Năm 1945: Làm thế nào giành và giữ được độc lập? Năm 1986: Làm thế nào thoát khỏi trì trệ và nghèo đói? Năm 2026: Làm thế nào để Việt Nam trở thành một quốc gia phát triển, thu nhập cao?
Chỉ riêng sự thay đổi của những câu hỏi ấy đã nói lên đất nước đã đi xa đến mức nào.
Nhưng bài toán của chặng đường phía trước cũng khó hơn. Những động lực từng giúp Việt Nam thoát nghèo sẽ không tự động đưa Việt Nam trở thành nước phát triển. Lợi thế lao động giá rẻ giảm dần; dân số đang già hóa; cạnh tranh công nghệ ngày càng quyết liệt; biến đổi khí hậu và những bất định địa chính trị đang định hình lại môi trường phát triển toàn cầu.
Vì thế, Việt Nam cần một thế hệ động lực mới: Từ tăng vốn sang tăng năng suất; từ lao động giá rẻ sang nhân lực chất lượng cao; từ gia công sang sáng tạo và làm chủ công nghệ; từ khai thác tài nguyên sang kinh tế xanh và kinh tế tri thức; từ cải cách từng lĩnh vực sang nâng cấp năng lực quản trị quốc gia.
Nếu Đổi mới năm 1986 trước hết là giải phóng sức sản xuất, thì Đổi mới trong giai đoạn mới phải tiến tới giải phóng sức sáng tạo và kiến tạo năng lực phát triển của cả quốc gia. Đó cũng là cách đẹp nhất để tiếp nối tinh thần của ngày Quốc khánh 2/9.
Năm 2045 sẽ đánh dấu tròn một thế kỷ thành lập nước. Nếu thế hệ 1945 mang sứ mệnh giành lại nền độc lập, thì thế hệ hôm nay có một sứ mệnh lịch sử khác: biến nền độc lập ấy thành sức mạnh phát triển; biến khát vọng tự do thành sự thịnh vượng, phẩm giá và chất lượng sống ngày càng cao của mỗi người Việt Nam.
Đó chính là hành trình từ khát vọng độc lập đến khát vọng hùng cường.
Độc lập để tự quyết Đổi mới để đi lên
81 năm trước, tại Quảng trường Ba Đình, dân tộc Việt Nam tuyên bố với thế giới quyền được độc lập và quyền tự quyết định vận mệnh của mình.
41 năm Đổi mới đã chứng minh thêm một điều: người Việt Nam có khả năng tự đổi mới để thay đổi số phận phát triển của chính mình. Từ một đất nước nghèo, thiếu thốn và tương đối khép kín, Việt Nam đã vươn lên thành một nền kinh tế năng động, hội nhập sâu rộng và đang hướng tới một khát vọng lớn hơn. Nhưng hành trình Đổi mới chưa bao giờ là hành trình có điểm kết thúc. Mỗi nấc thang phát triển lại đặt ra những yêu cầu đổi mới cao hơn.
Phía trước là năm 2045 - một thế kỷ Việt Nam độc lập. Nếu ngày 2/9/1945 mở ra kỷ nguyên dân tộc Việt Nam tự quyết định vận mệnh của mình, thì hành trình Đổi mới đang biến quyền tự quyết ấy thành năng lực kiến tạo tương lai.
Tác giả: TS. Nguyễn Sĩ Dũng – nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội
Thiết kế: Hoàng Yến
