Cọ nếp vốn là thức quà quê quen thuộc của vùng trung du, miền núi phía Bắc, đặc biệt gắn liền với những đồi cọ ở Phú Thọ. Tuy không nổi bật về hình dáng hay màu sắc, loại quả này lại chinh phục người ăn bằng phần cùi vàng óng, dày, mềm dẻo cùng vị béo bùi, thơm ngậy sau khi om.
Theo tờ Thời báo Văn học Nghệ thuật, từ một món ăn dân dã, cọ nếp nay đã trở thành đặc sản theo mùa được nhiều người săn đón, có thời điểm được bán với giá lên tới 160.000 đồng/kg.
Cọ có hai loại là cọ tẻ và cọ nếp, trong đó cọ nếp được ưa chuộng hơn hẳn nhờ phần cùi dày và giàu thịt. Trái với cọ tẻ thường có phần thịt mỏng, vị chát rõ và ít béo, quả cọ nếp ngon khi bóc ra thịt sẽ vàng đều, không bị xơ hay nhũn.
Khi quả còn tươi, phần thịt mang vị chát đặc trưng nên gần như không thể ăn trực tiếp. Chỉ qua công đoạn om đúng cách, cùi cọ mới chuyển sang màu vàng mật ong, mềm dẻo, béo bùi và ngọt nhẹ. Càng nhai kỹ, người thưởng thức càng cảm nhận rõ mùi thơm ngậy giống như vị của các loại hạt béo.
Cọ nếp vốn là thức quà quê quen thuộc của vùng trung du, miền núi phía Bắc, đặc biệt gắn liền với những đồi cọ ở Phú Thọ. Ảnh: Thời báo Văn học Nghệ thuật
Mùa cọ thường bắt đầu từ cuối tháng 10 và kéo dài đến khoảng giữa tháng 11 âm lịch. Quá trình kết trái bắt đầu từ giữa tháng 7 âm lịch với những chùm quả non màu xanh. Sau khoảng 3-4 tháng, quả lớn dần đạt kích thước bằng một đến hai đốt ngón tay, hình thuôn bầu dục và chuyển sang màu sẫm khi đủ độ già.
Cây cọ có thân cao vút, tán xòe rộng, dễ dàng sinh trưởng ở các vùng đất đồi mà không cần chăm sóc cầu kỳ. Do cọ mọc thành từng chùm trên ngọn cao, việc thu hoạch khá vất vả. Người hái thường phải trèo lên cây hoặc dùng sào gắn lưỡi liềm để cắt từng chùm quả.
Ngày trước, cây cọ chủ yếu được trồng để lấy lá lợp mái hoặc làm vật dụng dân gian, phần thân cũng được tận dụng cho nhiều công việc. Quả cọ khi ấy chỉ là phần thu hoạch phụ theo mùa để ăn chơi, giá trị kinh tế không cao.
Tuy nhiên những năm gần đây, cọ nếp ngày càng được người tiêu dùng thành phố biết đến và đặt mua làm quà qua các chợ trực tuyến hay cửa hàng nông sản.
Giá cọ thường ở mức 60.000 đồng/kg, riêng cọ nếp ngon có thể lên tới gần 100.000 đồng/kg.
Nếu mua loại cọ om sẵn, khách thường trả thêm 5.000-10.000 đồng/kg tiền công chế biến. Vào thời điểm cuối mùa khan hiếm, giá có thể chạm ngưỡng 160.000 đồng/kg.
Món cọ ỏm dậy mùi thơm và cho hương vị lạ miệng, khó quên. Ảnh: Sức khỏe & Đời sống
Theo Sức khỏe & Đời sống, để có một mẻ cọ ngon, khâu chế biến đòi hỏi sự khéo léo. Quả sau khi hái phải được chọn lọc kỹ, rửa sạch trước khi om. Yêu cầu quan trọng nhất là nước om không được quá nóng.
Người làm sẽ đun nước đến khoảng 85-90 độ C, đổ ngập cọ và ngâm trong 15-20 phút. Nếu dùng nước sôi già hoặc om quá lâu, quả dễ bị teo, cứng hoặc nhũn, làm mất đi độ bùi béo. Khi om đạt chuẩn, trên mặt nước sẽ xuất hiện lớp váng vàng, lớp cùi bên ngoài mềm ra, bớt chát và giữ nguyên được độ dẻo thơm.
Cọ om xong có thể bóc vỏ, tách hạt ăn trực tiếp như một món quà vặt. Nhiều nơi còn chấm cọ với chút muối hoặc gia vị để tăng phần đậm đà.
Không chỉ để ăn chơi, cọ nếp còn được ứng dụng trong nhiều món ăn truyền thống. Phần cùi béo ngậy có thể đem giã nhuyễn làm bánh dầy, tạo màu vàng tự nhiên và vị bùi cho bánh.
Ngoài ra, cọ cũng được dùng để muối dưa, nấu các món kho hoặc kết hợp cùng cá, thịt, mang đến hương vị đồng quê mộc mạc nhưng vô cùng hấp dẫn.
Không chỉ ăn chơi, cọ nếp còn được đưa vào nhiều món ăn truyền thống. Ảnh: Sức khỏe & Đời sống
