Mặt hàng đó chính là gỗ.
Sau gần ba thập kỷ phát triển, ngành chế biến gỗ Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong những ngành xuất khẩu chủ lực của nền kinh tế.
Theo số liệu từ Cục Hải quan, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ trong tháng 6/2026 đạt 1,55 tỷ USD, tăng 13,9% so với cùng kỳ năm 2025. Đây tiếp tục là nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất trong lĩnh vực nông nghiệp.
Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt 8,6 tỷ USD, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước. Trước đó, năm 2025, tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành đạt 17,2 tỷ USD, tiếp tục khẳng định vị thế là một trong những ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.
Trong nửa đầu năm 2026, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ sang thị trường Trung Quốc đạt 1,3 tỷ USD, tăng 46,5% so với cùng kỳ, chiếm 14,9% tổng kim ngạch xuất khẩu. Kết quả này giúp Trung Quốc vượt Nhật Bản để trở thành thị trường nhập khẩu gỗ lớn thứ hai của Việt Nam.
Tuy vậy, ngành gỗ vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức khi các thị trường ngày càng siết chặt các yêu cầu về tiêu chuẩn môi trường, truy xuất nguồn gốc, phát triển bền vững cũng như gia tăng các biện pháp phòng vệ thương mại.
Chuyển từ "đủ nguyên liệu" sang "nguyên liệu hợp pháp, bền vững"
Tại Diễn đàn "Tháo gỡ vướng mắc, thúc đẩy phát triển nguyên liệu bền vững cho ngành gỗ chế biến sâu" do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức ngày 23/7, các chuyên gia cho rằng phát triển vùng nguyên liệu bền vững là yếu tố quyết định để ngành gỗ duy trì tăng trưởng trong dài hạn.
Các chuyên gia nhận định phát triển nguồn nguyên liệu bền vững không chỉ nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của thị trường xuất khẩu mà còn giúp doanh nghiệp chủ động nguồn cung, giảm phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu, nâng cao năng lực cạnh tranh và gia tăng giá trị cho các sản phẩm chế biến sâu.
Chia sẻ trên Báo Nông nghiệp và Môi trường ông Bùi Trung Nghĩa, Phó Chủ tịch VCCI cho biết, để đạt mục tiêu 25 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu vào năm 2030, ngành chế biến gỗ không thể tiếp tục tăng trưởng theo chiều rộng dựa trên nguyên liệu nhập khẩu và sinh khối ngắn hạn. Thay vào đó, cần chuyển sang mô hình lâm nghiệp bền vững, tự chủ nguyên liệu, nâng cấp chuỗi giá trị và tối ưu hiệu quả sinh thái trên mỗi héc-ta rừng.
Theo các chuyên gia gần 4,9 triệu ha rừng trồng đã giúp Việt Nam từng bước chủ động nguồn nguyên liệu, giảm phụ thuộc vào nhập khẩu, đồng thời thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và kinh tế carbon. Điều này tạo nên lợi thế cạnh tranh cho Việt Nam.
Tuy nhiên, lợi thế cạnh tranh của ngành gỗ hiện nay không còn nằm ở giá thành hay năng lực sản xuất mà là chất lượng và tính bền vững của nguồn nguyên liệu.
Trong thời gian tới để ngành gỗ Việt Nam phát triển bền vững nguồn nguyên liệu cần đáp ứng đồng thời các yêu cầu về tính hợp pháp, khả năng truy xuất nguồn gốc, không gây mất rừng, có chứng chỉ quản lý rừng bền vững và phát thải carbon thấp.
Minh Khang
