4 năm sau khi điều trị ung thư cổ tử cung, người phụ nữ phát hiện thêm ung thư vú
Cách đây khoảng 3 tháng, bà Đ.T.M.C. (68 tuổi, Hà Nội) phát hiện khối u vùng vú phải. Khối u chắc, tăng kích thước dần theo thời gian. Lo lắng cho sức khỏe, bà C. đến Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC thăm khám.
Khai thác bệnh sử, bà C. từng được chẩn đoán ung thư cổ tử cung giai đoạn III cách thời điểm hiện tại 4 năm và đã được điều trị bằng xạ trị áp sát. Theo dõi sau điều trị ghi nhận bệnh hiện ổn định hoàn toàn.
Khám lâm sàng tại viện, bệnh nhân tỉnh, tiếp xúc tốt. Khám vú, tại vị trí 13 giờ vú phải, gần núm vú, ghi nhận khối kích thước khoảng 3 × 2 cm, mật độ chắc. Núm vú không tụt, không tiết dịch.
X-quang vú thấy khối tăng đậm độ kích thước 31 × 22,5 mm tại 1/4 trong dưới vú phải, bờ không đều, thùy múi, ranh giới tương đối rõ, không vi vôi hóa (BIRADS 4a). Vú trái có nốt vôi hóa thô 1 mm tính chất lành tính (BIRADS 2). Siêu âm vú phải phát hiện nốt giảm âm không đều, bên trong có phần dịch hóa, kích thước 26x17mm, bờ thùy múi không đều, xung quanh thâm nhiễm mỡ (BIRADS 4).
Bác sĩ đã sinh thiết khối u dưới hướng dẫn của siêu âm, gửi Trung tâm Giải phẫu bệnh MEDLATEC. Kết quả là carcinoma nhầy xâm nhập, phân típ phân tử Lòng ống A (Luminal A).
Từ những kết quả đó, bác sĩ chẩn đoán bệnh nhân mắc ung thư nguyên phát tại vú trên nền ung thư cổ tử cung đã điều trị ổn định. Bệnh nhân được tư vấn điều trị theo phác đồ chuyên khoa.
Ung thư biểu mô nhầy tuyến vú: Thể ung thư hiếm gặp với tiên lượng khả quan
Theo ThS.BS Nguyễn Văn Tuấn (Trung tâm Giải phẫu bệnh MEDLATEC, ung thư biểu mô nhầy tuyến vú là một thể ung thư vú xâm nhập hiếm gặp, chỉ chiếm khoảng 1-4% tổng số trường hợp ung thư vú xâm nhập. Bệnh chủ yếu xuất hiện ở phụ nữ sau mãn kinh, với độ tuổi mắc bệnh trung bình từ 60-70 tuổi.
Theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ung thư biểu mô nhầy tuyến vú được chia thành 2 nhóm chính. Thứ nhất là ung thư biểu mô nhầy đơn thuần (Pure Mucinous Carcinoma - PMC), khi thành phần chất nhầy chiếm trên 90% khối u. Thứ hai là ung thư biểu mô nhầy hỗn hợp (Mixed Mucinous Carcinoma - MMC), khi thành phần nhầy dưới 90% và có sự hiện diện của các thành phần ung thư biểu mô không đặc hiệu xen kẽ.
Về mặt lâm sàng, thể PMC có tiên lượng tốt hơn rõ rệt so với thể MMC. Trong khi đó, MMC thường có nguy cơ di căn hạch nách và tái phát bệnh cao hơn, đòi hỏi chiến lược điều trị và theo dõi chặt chẽ hơn.
Nhờ những đặc điểm sinh học thuận lợi, ung thư biểu mô nhầy tuyến vú được đánh giá có tiên lượng tốt hơn so với nhiều thể ung thư vú xâm nhập khác. Tỷ lệ di căn hạch nách chỉ khoảng 12-14%, tỷ lệ sống không bệnh sau 5 năm đạt từ 85-95%, và tỷ lệ sống không bệnh sau 10 năm lên tới 90,4%.
Tuấn Minh
