Anh khóc ở Thiên Tân, giữa tháng bảy, trong một buổi giao lưu quảng bá phim. Một người hâm mộ đứng lên, không xin chữ ký hay chụp ảnh mà chỉ xin đạo diễn làm một việc: quay lưng về phía khán giả. Khi anh làm theo, cả khán phòng đồng thanh: chúng tôi mãi đứng sau lưng anh. Người đàn ông sáu mươi tư tuổi quay lại, mắt đỏ, xúc động pha lúng túng nói: “Tôi không biết phải nói gì. Tôi sẽ cố hết sức”.
Rồi anh khóc ở Thành Đô, khi toàn bộ khán giả trong rạp bật đèn điện thoại soi về phía anh. Một khán giả nói đừng để ý điểm số trên mạng, vì tiếng cười trong rạp mới là điểm số chính xác nhất. Và mắt anh lại đỏ lên.
Rồi anh khóc ở Thâm Quyến. Một người trong rạp nhắc lại khẩu hiệu quen thuộc của khán giả đại lục nhiều năm trước: “Chúng tôi nợ Tinh gia một tấm vé” (vì ngày ấy, phim Hồng Kông chỉ có một con đường vào đại lục - và cả Việt Nam chúng ta - là những cuộn băng VHS được sang lậu). Nghe câu ấy, anh lại rưng rưng, lắc đầu: không ai nợ anh gì cả, chỉ có anh là nợ khán giả, vì anh luôn sợ mọi người thất vọng, luôn thấy mình chưa đủ tốt.
Những giọt nước mắt ấy không rơi vì vinh quang. Khi anh khóc ở Thiên Tân, phim đang bị chỉ trích nặng nề. Điểm Douban dừng ở con số 6,5, thấp nhất trong toàn bộ các phim anh đạo diễn. Trên mạng, vô số người bảo đây là phim dở nhất của Châu Tinh Trì. Những cụm từ lên trending: kịch bản yếu, trò cũ, lố lăng, thiếu tôn trọng phụ nữ… Những giọt nước kia không phải là giọt lệ khải hoàn, mà là sự ấm lòng khi nhận ra mình có quá nhiều người yêu thương.
Đây là lần đầu tiên Châu Tinh Trì tỏ ra mong manh đến như vậy trước công chúng. Hơn bốn mươi năm làm người nổi tiếng, anh gần như không để lộ cho người khác biết mình nghĩ gì. Kiệm lời trong phỏng vấn, mặt lạnh trên thảm đỏ; lần gần nhất người ta thấy mắt anh đỏ là trong đám tang của Ngô Mạnh Đạt vào năm 2021, và ngay cả lần ấy anh cũng quay đi rất nhanh. Đó là một người đã làm cho hàng trăm triệu người cười và khóc trong rạp, nhưng lại cố giấu đi cảm xúc thực của mình.
Có lẽ vì anh đã khóc quá nhiều và đau quá nhiều, trong phim của mình.
Xếp tất cả nhân vật chính của Châu Tinh Trì cạnh nhau, từ thời anh còn đứng trước ống kính cho đến khi anh đã lùi hẳn ra sau, hẳn nhiều người sẽ nhận ra: chúng dường như chỉ là một người. Kẻ lạc loài, đứng ngoài, bị bỏ lại.
Thời còn diễn, đó là Lăng Lăng Tất trong “Quốc sản 007”, anh bán thịt lợn kiêm điệp viên hạng bét bị bỏ quên mười năm, được gọi đi chỉ vì người ta cần một kẻ thí mạng. Là Linh Linh Phát, thị vệ hoàng cung không biết võ, suốt ngày làm phát minh bị cả triều đình chê cười. Là Sử Đề Phân Châu trong “Thực thần”, rơi từ đỉnh xuống đáy, được cứu bởi Hỏa Kê, cô gái mặt sẹo bán mì xiên vỉa hè. Là Chí Tôn Bảo trong “Đại thoại Tây du”, đội vòng kim cô, từ bỏ tình yêu, rồi đứng nhìn kẻ giống mình hôn Tử Hà Tiên Tử trên thành.
Là Doãn Thiên Cừu trong “Hỷ kịch chi vương”, diễn viên quần chúng cầm cuốn “Tự tu dưỡng của diễn viên” lẽo đẽo theo đoàn phim xin một câu thoại, một cái chết cho ra hồn, và bị đạo diễn hắt cả hộp cơm. Là Tinh trong “Thiếu Lâm túc cầu”, gã nhặt rác đi đôi giày rách, đứng trước quán bar rao giảng võ công và bị đẩy ra từng người một. Là A Tinh trong “Tuyệt đỉnh Kungfu”, đứa bé bị đám trẻ đánh rồi đái lên đầu sau khi liều mình cứu cô bé câm, lớn lên thành kẻ lưu manh nửa mùa, muốn vào băng đảng cũng không được nhận. Là người cha công nhân trong “Trường Giang số 7”, không có gì cho con ngoài một lời dặn.
Rồi anh không diễn nữa, nhưng nhân vật thì không đổi. Trần Huyền Trang trong “Tây du: Mối tình ngoại truyện” bị đồng nghiệp coi là kẻ lừa đảo, bị yêu quái coi là trò cười, vì con đường hàng yêu “cải lương” không ai bằng: hát cho lũ yêu quái nghe “300 bài hát thiếu nhi”. San San trong “Mỹ nhân ngư” thuộc về một giống loài đang bị đẩy tới tuyệt chủng, phải đeo chân giả để đi giữa loài người. Như Mộng trong “Tân hỷ kịch chi vương” là diễn viên quần chúng hơn mười năm không có vai, bị cha xua đuổi, bạn trai lợi dụng, đạo diễn sỉ nhục. Và giờ là đội bóng nữ Nga Mi, những phụ nữ ngoài ba mươi bị bảo là đã quá già để chơi bóng.
Mười hai phim anh đứng tên đạo diễn đều kể về những kẻ bên lề, chỉ đổi kiểu: thập niên 1990 là bên lề nghề nghiệp (điệp viên thừa, thị vệ vô dụng, diễn viên quần chúng), giai đoạn 2001–2008 là bên lề giai cấp (nhặt rác, ổ chuột, công nhân), từ 2013 là bên lề về loài, về giới, về tuổi. Nhưng cái lõi không đổi: bị cả thế giới coi là trò hề chỉ vì một niềm tin không chịu buông.
Hai bộ phim gần nhất, cách nhau bảy năm, còn đồ lại thông điệp ấy rõ hơn. “Tân hỷ kịch chi vương” và “Kungfu nữ túc” là bản làm lại của hai phim cũ đã rất thành công, kể lại đúng câu chuyện cũ, chỉ đổi giới tính nhân vật. Một người đã có mọi thứ, ở tuổi sáu mươi, vẫn quay lại kể đúng câu chuyện đã kể ở tuổi ba mươi bảy. Vết thương ngỡ đã lành, nhưng vẫn chảy máu. Hay vì nó chưa bao giờ thực sự lành.
Có những vết thương cũ
Mãi chẳng thể liền da
Chỉ chực chờ chảy máu
Chỉ vì lời thoáng qua
(trích “Trường ca băng hoả”)
Châu Tinh Trì sinh ngày 22 tháng 6 năm 1962 tại Hồng Kông, lớn lên ở Cửu Long trong khu nhà nghèo. Cha mẹ ly hôn khi anh còn nhỏ, mẹ anh một mình nuôi ba đứa con. Nhiều năm sau, bà kể Châu Tinh Trì chưa bao giờ là một đứa trẻ hài hước, từ nhỏ đã ít nói, hay đứng bên cửa sổ nhìn xuống đường hàng giờ, với một nỗi mặc cảm không cách gì xoá nổi trước chúng bạn.
Nhà nghèo, hiếm khi bữa cơm có thịt. Một hôm mẹ vất vả lắm mới mua được một cái đùi gà, vậy mà Tinh làm rớt xuống đất và không chịu ăn nữa. Bà tức giận đánh thằng nhỏ một trận. Sau này, báo chí Hoa ngữ kể lại câu chuyện này không biết bao nhiêu lần, với một sự thật ẩn sau đó: Tinh thương mẹ, biết mẹ luôn nhường thịt cho các con, nên cố tình làm rớt miếng thịt vì biết mẹ tiếc tiền sẽ mang đi rửa mà ăn. Đó là cách duy nhất một đứa nhỏ nghĩ ra để mẹ mình được ăn thịt, và nó chấp nhận chịu một trận đòn để làm việc đó. Giai thoại thì luôn được thêm thắt. Nhưng cái lõi vẫn vậy: ngay từ nhỏ, Châu Tinh Trì đã học được cách diễn để che đậy một thứ khác.
Người anh muốn trở thành, thuở ấy, không phải diễn viên hài. Cậu bé lớn lên trong những năm Lý Tiểu Long làm cả Hồng Kông phát cuồng, tin rằng võ công là con đường duy nhất để thoát nghèo hoặc được người khác công nhận. Nghề mua nụ cười mà anh sẽ nổi tiếng không phải lựa chọn đầu tiên, mà chỉ đến sau rất nhiều ba đào.
Năm 1982, anh quyết định thi vào lớp đào tạo diễn viên của đài TVB, khi ấy gần như là cánh cửa duy nhất để một người không có quan hệ bước vào ngành giải trí Hồng Kông. Anh rủ người bạn thân ở cùng khu đi thi cùng. Người bạn ấy là con của một nhà bán đồ điện, chưa từng có ý định làm diễn viên, chỉ đi theo vì ham vui và để bạn đỡ run. Kết quả: Châu Tinh Trì thi rớt, người bạn kia thì đậu.
Đó là lần đầu tiên ngành phim từ khước anh, theo cách trớ trêu nhất. Họ mở cửa cho người vốn không muốn bước vào và sập cửa với anh.
Trong một chương trình kỷ niệm bốn mươi năm vào nghề phát trên Douyin đầu năm 2023, người bạn ham vui đi thi chơi năm nào đã nhắc lại ký ức xưa, gọi Tinh bằng cái tên thuở còn ở truồng tắm mưa là “Tinh tử” và nói: “Đó là người bạn tồi nhất nhưng cũng là người bạn tốt nhất của tôi”. Tồi nhất vì đã lôi một thằng bán đồ điện đang yên ổn vào cái nghề bạc bẽo, đến mức người mẹ phải qua nhà mắng Tinh là bạn tồi và hãm hại con bà. Tốt nhất vì nếu không có cái lần thi chơi ấy thì điện ảnh Hồng Kông lẫn thế giới đã không có “Tâm trạng khi yêu”, không có “Vô gián đạo”, không có “Anh hùng”…
Không có Lương Triều Vỹ!
Khi Lương bận rộn ở TVB như một ngôi sao trẻ sáng giá, Châu phải cầu cạnh người quen xin vào lớp buổi tối, dạng “bổ túc”, để nuôi ước mơ. Tốt nghiệp rồi mà không được giao vai, anh lang thang khắp các phim trường để xin từng vai quần chúng, ngày nào không có vai thì không được cơm hộp. Rồi anh được cho dẫn chương trình “430 Phi thuyền” vì người MC cũ bận đi đóng phim lớn của đài và đang được đài xây dựng thành một trong “ngũ hổ tướng”. Trong năm năm Châu dẫn chương trình và xin từng vai phụ, anh phải chứng kiến bạn mình lần lượt trở thành Vi Tiểu Bảo, thành Trương Vô Kỵ… mà cứ bật tivi lên là thấy.
Năm 1983, Châu đóng một vai quần chúng trong “Anh hùng xạ điêu”, bị Mai Siêu Phong một chưởng đánh chết. Anh đến xin đạo diễn cho nhân vật đỡ một chiêu rồi hãy chết và bị từ chối. Mười sáu năm sau, khi Doãn Thiên Cừu nằng nặc xin đạo diễn được chết cho tử tế hơn, xin thêm một cái giật mình trước khi tắt thở, khán giả cười, song rất ít người biết họ đang cười một chuyện có thật.
Toàn bộ sự nghiệp của Châu Tinh Trì là một cuốn nhật ký viết bằng mật mã. Doãn Thiên Cừu là tám năm TVB. Tinh trước cửa quán bar là cậu bé đứng bên cửa sổ khu nhà nghèo. Chí Tôn Bảo quay lưng trên thành là cái nhìn của một người đã sớm hiểu rằng hạnh phúc là thứ chỉ đến với người khác và mình chỉ được phép nhìn. Người cha trong “Trường Giang số 7” là người mẹ với miếng đùi gà.
Ngay cả sự khắc nghiệt nổi tiếng của anh trên trường quay - sa thải nữ chính giữa chừng, quay lại hàng chục lần một cảnh nhỏ, danh sách dài những cộng sự bỏ đi, từ Ngô Mạnh Đạt đến Hồng Kim Bảo, Lý Lực Trì, Vương Tinh… – cũng cùng một vết thương mà ra. Vì người bị từ khước lâu ngày biết đào đâu ra sự rộng lượng mà mình chưa từng nhìn thấy ở người khác. Toàn bộ lòng trắc ẩn anh dành hết cho những nhân vật của mình, những kẻ bị bỏ rơi, những phóng chiếu của anh. Anh cho hết, cho đến cạn kiệt, và không còn gì cho những người thật đứng quanh mình, những người yêu thương anh nhất.
Điều này giải thích được một chuyện: tại sao những người bị anh đối xử tệ nhất, như Ngô Mạnh Đạt, lại là những người bênh vực anh lâu nhất, và tại sao Lương Triều Vỹ, sau bốn mươi năm không mấy gặp nhau và chưa từng đóng cùng một bộ phim nào, vẫn gọi anh là bạn tốt nhất. Vì họ không chỉ nhìn Châu Tinh Trì mà còn thấy đứa bé.
Nhưng nếu chỉ có tổn thương, Châu Tinh Trì cũng chỉ là một trong vô vàn nghệ sĩ chuyển hoá nỗi đau thành những giây phút thăng hoa trong nghệ thuật. Điều làm anh trở nên khác biệt và vượt trội là khả năng bọc những tổn thương trong tiếng cười, khéo tới mức người ta cười xong rồi mới thấy đau dần sau đó.
Người ta hay gọi phong cách của anh là “mô lôi đầu”, lối hài phi lý, chồng chất, phá vỡ logic. Nhưng Vương Tinh, Lưu Trấn Vỹ cũng làm hài kiểu này, phim hoạt hình cũng làm kiểu này. Song chỉ có Châu Tinh Trì đưa được cái bi-hài lồng ghép lên đỉnh cao, vì nụ cười của anh luôn được xây trên một cái nền nhục nhã. Trong “Hỷ kịch chi vương”, Doãn Thiên Cừu dạy Liễu Phiêu Phiêu diễn, cô về đến cửa mới thấy chiếc áo anh khoác cho mình, rồi bật khóc: ở đó không có gì buồn cười, Châu Tinh Trì biết vậy, và anh làm vậy. Anh dụ cho khán giả cười cho đã để làm họ khóc mà không kịp phòng thủ. Bởi vì viên thuốc bọc đường mà anh cho họ nuốt giờ đã vỡ ra, và nó lôi trong người khán giả ra những niềm đau chôn giấu. Bởi vì ai trong chúng ta mà không trải qua nỗi đau bị bỏ rơi, bị từ khước, cảm thấy mình không xứng đáng được thương.
Châu Tinh Trì cả đời chỉ bán đúng món thuốc bọc đường, người ta biết nhưng không cưỡng được. Vì tiếng cười trong phim anh là tiếng cười sạch, là tiếng cười được kết tinh từ nỗi đau, và tiếng cười khi chuyển hoá thành bi sẽ chỉ cho khán giả thấy là mình có bệnh. Nếu ai đó nói bạn có bệnh, bạn sẽ bực mình và cho rằng người ta nói nhảm. Nhưng trong rạp chiếu bóng, bạn cười khóc với nhân vật và bạn âm thầm nhận ra bệnh của mình.
Châu Tinh Trì xử lý khán giả đúng như cậu bé xử lý mẹ mình với miếng đùi gà: dựng một màn kịch để người ta nhận lấy điều họ sẽ từ chối nếu được đưa thẳng.
Đó là bi kịch ở đẳng cấp cao nhất, loại bi kịch không xin khán giả khóc mà bắt họ cười ra nước mắt. Trong lịch sử điện ảnh, người làm được việc này một cách hệ thống, phim này qua phim khác, với cùng một nhân vật kẻ bên lề, là Charlie Chaplin. Gã lang thang của Chaplin và Tinh của Châu là anh em: cùng nghèo, cùng bị đá ra khỏi mọi cánh cửa, cùng giữ một phẩm giá lố bịch mà không ai công nhận, và cùng để cho khán giả cười mình trước khi cho họ thấy mình đang đau. “Ánh đèn sân khấu” và “Hỷ kịch chi vương” là hai phim về cùng một nỗi sợ: sợ mình không phải là nghệ sĩ như mình vẫn tin.
Nếu Châu Tinh Trì sinh ra ở phương Tây, nói tiếng Anh, người ta đã xếp anh vào vị trí huyền thoại điện ảnh từ mấy chục năm trước. Vì anh làm phim tiếng Quảng Đông với những câu chơi chữ không dịch được, thế giới đến với anh muộn hơn, và đến qua các đạo diễn. Quentin Tarantino gọi “Tuyệt đỉnh Kungfu” là phim hay nhất năm ấy. Edgar Wright kể “Thiếu Lâm túc cầu” là một trong những phim ảnh hưởng đến cách mình dựng hài hành động. Bill Murray, một người không dễ khen ai, gọi “Tuyệt đỉnh Kungfu” là thành tựu tối cao của hài kịch hiện đại. Những người này không học ở anh cách chọc cười. Họ học cách đặt một vết thương vào giữa miếng hài.
Rồi sau mấy chục năm làm Vua phòng vé, người ta bảo anh hết thời.
Không phải vô cớ. “Tân hỷ kịch chi vương” năm 2019 thua lỗ. “Mỹ nhân ngư 2” quay xong rồi cất kho. Bảy năm không có phim. Khi “Kungfu nữ túc” ra rạp, cả một thế hệ khán giả Douban, những người sinh ra sau “Đại thoại Tây du”, nhìn vào và thấy một ông già đang kể lại trò cũ. Vương Tinh, vẫn lắm mồm như mọi khi, nói: “Phim tốt, nhưng không mạnh bằng Thiếu Lâm túc cầu”. Một bài điểm phim tiếng Anh nói gọn hơn: phim thiếu “cái nhân tính tuyệt vọng” của những kiệt tác trước.
“Kungfu nữ túc” kể về những người phụ nữ bị bảo là đã quá tuổi mà vẫn mơ. Tinh vẫn là bậc thầy chưng cất nỗi đau. Người ta bảo anh già, anh kể chuyện những người bị chê già. Người ta bảo anh nên về hưu, anh kể chuyện những người bị bảo nên nghỉ. Phân mảnh thế nào thì mảnh vỡ vẫn phản chiếu đúng một khuôn mặt.
Và dù bị chê bai hết cỡ, phim vẫn mang về 2,3 tỷ tệ và là phim số một trong một mùa phim hè tràn ngập bom tấn, trong đó có “The Odyssey” lẫn “Spider-Man”. Nếu phim chỉ chiếu cho fan của Châu, những người tự thấy mình nợ anh một vé xem phim, nó đã không đạt tới thành tích ấy. Người ta xem nhiều vì người ta thấy mình trong phim anh, vì trên đời này có mấy ai mà chưa từng bại?
Nhưng câu chuyện đẹp nhất của “Kungfu nữ túc” không phải là con số trên phòng vé, mà là những giọt nước mắt ở Thiên Tân, lúc anh không kềm được cảm xúc khi nghe khán giả nói họ vẫn ở sau lưng anh.
Cả đời, Châu Tinh Trì bọc tiếng khóc trong tiếng cười. Anh cho Doãn Thiên Cừu khóc, cho Chí Tôn Bảo khóc, cho Liễu Phiêu Phiêu, cho A Mai, cho cô gái câm… khóc thay mình để không phải tự khóc. Người bạn tồi nhất và tốt nhất, người khó gần nhất, người đóng cửa với tất cả, kể cả nước mắt của chính mình.
Giờ thì anh đã khóc được, không qua nhân vật nào, không bọc một trò đùa nào.
Doãn Thiên Cừu nói: “Tôi là một diễn viên”. Người viết ra câu ấy giờ không diễn nữa, trước màn ảnh lẫn trong cuộc đời. Với những người thực tâm yêu mến Châu Tinh Trì, những giọt nước mắt chân thực kia có lẽ đã khiến họ bất giác mỉm cười.
Trần AI
