LTS: Trước nguy cơ El Nino tiếp tục mạnh lên, mùa khô 2026-2027 được dự báo sẽ đặt ra nhiều thách thức đối với công tác bảo đảm nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp và đời sống người dân, nhất là tại Đồng bằng sông Cửu Long, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Nguy cơ hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn có thể kéo dài, đòi hỏi các giải pháp ứng phó phải được triển khai từ sớm, đồng bộ và sát với thực tế từng vùng.
Xung quanh vấn đề này, PV Đời sống & Pháp luật đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Tùng Phong, Cục trưởng Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và Môi trường về nguy cơ hạn mặn, các kịch bản ứng phó và giải pháp bảo đảm an ninh nguồn nước trong thời gian tới.
Trao đổi với phóng viên, ông Nguyễn Tùng Phong, Cục trưởng Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, El Nino chưa tác động nhiều đến lượng nước trữ trong các hồ chứa, nhưng diễn biến dòng chảy về Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã chịu ảnh hưởng đáng kể. Trong bối cảnh mùa khô đang đến gần, nguy cơ hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn cần được tính toán từ sớm, với các phương án ứng phó tương ứng từng vùng.
Nguy cơ hạn mặn kéo dài từ cuối năm 2026 đến năm 2027
ĐS&PL: Trước những diễn biến của El Nino, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đánh giá thế nào về nguy cơ hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn trong mùa khô 2026-2027, đặc biệt tại ĐBSCL và các khu vực thường xuyên chịu ảnh hưởng?
Ông Nguyễn Tùng Phong: El Nino hiện chưa ảnh hưởng nhiều đến nguồn nước trữ trong các hồ chứa, nhưng đã tác động khá mạnh đến dòng chảy về ĐBSCL. Tuy nhiên, tác động của El Nino sẽ là câu chuyện lớn hơn nhiều ở thời gian tới, khi El Nino đang tiếp tục mạnh lên và mùa khô ở nước ta cũng đang tới gần.
Với dự báo mùa mưa năm 2026 khả năng kết thúc sớm và lượng mưa bị thiếu hụt 10-20%, sẽ ảnh hưởng lớn đến việc trữ nước của các hồ chứa và dòng chảy sông, suối.
Theo dự báo của chúng tôi, khi kết thúc mùa mưa, các hồ chứa ở Bắc Trung Bộ, cao nguyên Trung Bộ, Đông Nam Bộ ở mức trữ 80-90% dung tích thiết kế, khu vực Nam Trung Bộ ở mức 70-80% dung tích thiết kế. Đây đều là mức thấp hơn những năm thời tiết bình thường, các hồ chứa đều trữ được ở mức 95-100% dung tích thiết kế.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp cùng lãnh đạo địa phương, UNICEF... đưa bồn chứa nước lên xe cho người dân. Ảnh: NVCC
Trên cơ sở lượng nước dự kiến tích trữ, dự báo dòng chảy sông, suối và mức độ nắng nóng, chúng tôi nhận định hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn có nguy cơ ảnh hưởng đến duyên hải Nam Bộ Trung và Tây Nguyên, Đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ và Bắc Trung Bộ. Mức độ ảnh hưởng có khả năng tương đương các đợt hạn hán, thiếu nước nghiêm trọng giai đoạn 2014-2016, với thời gian ảnh hưởng dự kiến từ tháng 12/2026 đến tháng 9/2027.
Tại Bắc Trung Bộ, diện tích sản xuất nông nghiệp có nguy cơ bị ảnh hưởng khoảng 9.000–16.500ha trong vụ Đông Xuân và 28.000-42.500ha trong vụ Hè Thu.
Ở duyên hải Nam Trung Bộ, diện tích có nguy cơ bị ảnh hưởng khoảng 25.000-45.000ha trong vụ Đông Xuân và 55.000-98.000ha trong vụ Hè Thu.
Tại vùng cao nguyên Trung Bộ, nguy cơ thiếu nước có thể ảnh hưởng khoảng 105.000-150.000ha cây trồng trong vụ Đông Xuân, tập trung chủ yếu vào cây trồng lâu năm nằm ngoài phạm vi tưới của các công trình thủy lợi. Thời gian ảnh hưởng dự kiến từ tháng 12/2026 đến tháng 5/2027.
Đối với ĐBSCL, nguy cơ hạn hán, thiếu nước có thể tác động đến khoảng 85.800ha lúa Đông Xuân, 120.000ha diện tích lúa - tôm tại các khu vực chủ yếu sử dụng nước mưa và khoảng 45.000ha cây ăn trái ở vùng ven biển. Ngoài ra, tình trạng cạn nước tại các kênh, rạch còn tiềm ẩn nguy cơ sụt lún, sạt lở ở một số địa bàn như An Giang và Cà Mau.
Tại Đông Nam Bộ, khoảng 35.000-40.000ha cây trồng, chủ yếu là cây lâu năm ngoài vùng được công trình thủy lợi bảo đảm tưới, có nguy cơ chịu ảnh hưởng trong vụ Đông Xuân.
Những con số trên cho thấy nguy cơ thiếu nước không chỉ tác động đến một vài địa phương mà có thể ảnh hưởng trên diện rộng. Vì vậy, việc chủ động xây dựng kịch bản và tổ chức sản xuất phù hợp với khả năng nguồn nước có ý nghĩa quyết định trong việc giảm thiểu thiệt hại.
PV Đời sống & Pháp luật trao đổi với ông Nguyễn Tùng Phong, Cục trưởng Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Ảnh: Khánh Phương
ĐS&PL: Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã xây dựng những kịch bản ứng phó nào để bảo đảm nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của người dân? Những giải pháp nào sẽ được ưu tiên triển khai ngay từ thời điểm này nhằm hạn chế thiệt hại khi tình huống bất lợi xảy ra?
Ông Nguyễn Tùng Phong: Để chủ động phòng, chống hạn hán, xâm nhập mặn, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành quy trình phòng, chống hạn hán, xâm nhập mặn phục vụ sản xuất nông nghiệp tại các vùng thường xuyên chịu ảnh hưởng. Quy trình xác định các kịch bản nền và hành động tương ứng theo các giai đoạn trước, trong và sau thiên tai, qua đó giúp các cơ quan, địa phương chủ động tổ chức thực hiện những nội dung phù hợp, bảo đảm luôn luôn chủ động.
Lãnh đạo Bộ đã làm việc với các đơn vị liên quan về công tác chuẩn bị ứng phó với tác động của El Nino giai đoạn 2026-2027; đồng thời có văn bản yêu cầu các địa phương kích hoạt kịch bản hạn hán, xâm nhập mặn ở mức rủi ro rất cao.
Các kịch bản được xây dựng trên cơ sở tham chiếu những đợt thiên tai nghiêm trọng trước đây, như xâm nhập mặn mùa khô 2019-2020 tại ĐBSCL và hạn hán, thiếu nước mùa khô 2014-2016 ở Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ.
Bộ đã ban hành Văn bản số 9494/BNNMT-TL ngày 18/8/2026 về triển khai các giải pháp phòng, chống hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn do ảnh hưởng của El Nino; đồng thời ban hành Quyết định số 3510/QĐ-BNNMT ngày 9/9/2026 về kế hoạch xây dựng, cập nhật và triển khai kịch bản hạn hán, ứng phó với El Nino theo từng vùng, lưu vực sông.
Đối với ĐBSCL, một trong những nhiệm vụ cần thực hiện sớm là xác định các khu vực có nguy cơ bị ảnh hưởng của hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn theo những kịch bản đã xảy ra trong các mùa khô 2015-2016, 2019-2020 và 2023-2024. Trên cơ sở đó, các địa phương cần sắp xếp lịch thời vụ phù hợp ngay từ vụ Hè Thu năm 2026, tạo điều kiện đẩy sớm lịch gieo cấy lúa Đông Xuân 2026-2027, phòng trường hợp xâm nhập mặn xuất hiện sớm vào cuối năm.
Tại khu vực Trung Bộ, cần rà soát, xác định thứ tự ưu tiên cấp nước, xây dựng kế hoạch sử dụng nước cho từng vụ sản xuất; kiểm kê nguồn nước, tính toán khả năng cấp nước trong cả vụ và chỉ xuống giống khi bảo đảm đủ nước. Những diện tích thiếu nước cần được xem xét giãn vụ hoặc chuyển đổi cây trồng phù hợp, tránh sản xuất vượt khả năng cung cấp của hệ thống thủy lợi.
Theo tôi, điều quan trọng là các địa phương không chờ đến khi hạn hán, xâm nhập mặn xảy ra mới triển khai giải pháp. Việc chuẩn bị từ sớm sẽ giúp giảm áp lực lên công trình thủy lợi, hạn chế thiệt hại và bảo đảm nguồn nước cho những nhu cầu thiết yếu.
Ông Nguyễn Tùng Phong, Cục trưởng Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Ảnh: Khánh Phương
Điều chỉnh mùa vụ, chuyển đổi cây trồng phải gắn với sinh kế người dân
ĐS&PL: Trước nguy cơ thiếu nước và xâm nhập mặn, việc điều chỉnh cơ cấu cây trồng, mùa vụ và chuyển đổi sang các mô hình sản xuất tiết kiệm nước cần được thực hiện như thế nào để hạn chế thiệt hại mà không làm tăng gánh nặng chi phí cho người dân?
Ông Nguyễn Tùng Phong: Giải pháp quan trọng là chủ động tổ chức sản xuất phù hợp với khả năng nguồn nước của từng khu vực, trong đó có việc điều chỉnh cơ cấu cây trồng và bố trí thời vụ hợp lý.
Trước hết, cần khoanh vùng những khu vực có nguy cơ bị ảnh hưởng, căn cứ thông tin dự báo nguồn nước để sắp xếp lịch gieo trồng. Nguyên tắc là tránh để thời kỳ sinh trưởng nhạy cảm của cây trồng trùng với thời điểm hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn diễn biến gay gắt. Đối với những diện tích chưa bảo đảm nguồn nước, cần chủ động điều chỉnh lịch thời vụ đến thời điểm phù hợp.
Thực tiễn đã chứng minh hiệu quả của giải pháp này. Trong đợt xâm nhập mặn lịch sử năm 2019-2020 tại ĐBSCL, lịch gieo cấy lúa Đông Xuân ở các tỉnh ven biển được đẩy sớm từ 30-40 ngày, bắt đầu từ tháng 10, tháng 11/2019. Vì vậy, khi xâm nhập mặn lên cao nhất vào tháng 2, tháng 3/2020, nhiều diện tích lúa đã chuẩn bị thu hoạch, không còn nhu cầu nước tưới lớn. Riêng giải pháp điều chỉnh thời vụ đã giúp tránh tác động của xâm nhập mặn cho khoảng 100.000-150.000ha lúa.
Bên cạnh đó, việc chuyển đổi sản xuất từ đất lúa sang các loại hình phù hợp với điều kiện nguồn nước, sinh thái vùng, nhằm giảm thiểu tác động của hạn hán, xâm nhập mặn, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu là giải pháp hiệu quả, đã được Bộ Nông nghiệp và Môi trường triển khai thực hiện trong các năm gần đây.
Hàng năm, Bộ ban hành Kế hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất trồng lúa; ví dụ như khu vực ĐBSCL các năm gần đây có kế hoạch chuyển đổi khoảng hơn 80.000 ha/năm từ đất lúa sang cây ăn trái, cây hàng năm hoặc kết hợp nuôi trồng thủy sản.
Tuy nhiên theo tôi, chuyển đổi phải có quy hoạch, hướng dẫn kỹ thuật và tính toán hiệu quả kinh tế, tránh tình trạng người dân tự chuyển đổi theo phong trào rồi gặp khó khăn về vốn và đầu ra.
Cần phát huy vai trò của hệ thống khuyến nông trong hướng dẫn kỹ thuật, sử dụng nước tiết kiệm và lựa chọn mô hình phù hợp; đồng thời lồng ghép các chính sách hỗ trợ hiện có, tăng cường liên kết giữa hợp tác xã, doanh nghiệp và người dân trong cung ứng vật tư, tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Quan điểm xuyên suốt là không chuyển đổi bằng mọi giá, mà phải căn cứ vào điều kiện nguồn nước, nhu cầu thị trường và khả năng của người dân. Mục tiêu cuối cùng là giảm rủi ro do hạn mặn, nâng cao hiệu quả sử dụng đất và bảo đảm sinh kế bền vững.
Để chủ động phòng, chống hạn hán, xâm nhập mặn, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành quy trình phòng, chống hạn hán, xâm nhập mặn phục vụ sản xuất nông nghiệp tại các vùng thường xuyên chịu ảnh hưởng. Ảnh: NVCC
ĐS&PL: Một trong những thách thức lớn là khả năng dự báo, điều tiết và phân bổ nguồn nước giữa các địa phương, ngành kinh tế. Bộ sẽ phối hợp với các địa phương và cơ quan liên quan như thế nào để vận hành hiệu quả các công trình thủy lợi, hồ chứa, hệ thống cấp nước, đồng thời tăng cường cảnh báo sớm cho người dân?
Ông Nguyễn Tùng Phong: Để ứng phó hiệu quả với hạn hán, xâm nhập mặn, việc lấy nước, điều tiết bổ sung nguồn nước từ các hồ chứa thủy điện và phối hợp vận hành giữa các hệ thống công trình thủy lợi là nhiệm vụ hết sức quan trọng. Vì vậy, phối hợp liên vùng và chia sẻ thông tin là yêu cầu bắt buộc. Theo tôi, cần tập trung vào ba nội dung:
Thứ nhất, tăng cường chia sẻ thường xuyên dữ liệu về mưa, mực nước, lưu lượng, độ mặn, dung tích trữ nước và tình trạng vận hành công trình. Thông tin cần được cập nhật kịp thời để các địa phương cùng đánh giá nguy cơ và thống nhất phương án ứng phó.
Thứ hai, xây dựng và rà soát các kịch bản hạn hán, xâm nhập mặn theo từng cấp độ; xác định rõ khu vực có nguy cơ thiếu nước, nguồn cấp nước thay thế, khả năng kết nối giữa các hệ thống và trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị.
Thứ ba, tăng cường phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị khai thác công trình thủy lợi và chính quyền địa phương trong điều hành lấy nước, vận hành cống, trạm bơm, tích trữ và phân phối nước. Khi tình hình thay đổi, phương án phải được điều chỉnh kịp thời, tránh vận hành riêng lẻ, thiếu đồng bộ.
Việc phối hợp phải được thực hiện thường xuyên, có thông tin chung, phương án chung và trách nhiệm rõ ràng. Hiện nay, Bộ Nông nghiệp và Môi trường có các đơn vị khai thác công trình thủy lợi trực thuộc, được giao quản lý những công trình lớn có nhiệm vụ phân phối nước liên tỉnh như Cái Lớn, Cái Bé, Bắc Hưng Hải, Cửa Đạt… Việc vận hành phải tuân thủ quy trình được cấp có thẩm quyền phê duyệt, đồng thời bảo đảm sự phối hợp và phân công trách nhiệm rõ ràng.
Bộ cũng giao các đơn vị khoa học thực hiện nhiệm vụ dự báo nguồn nước và xây dựng kế hoạch sử dụng nước cho sản xuất nông nghiệp ở các vùng; Giám sát dự báo chất lượng nước trong các hệ thống công trình thủy lợi liên tỉnh. Kết quả dự báo được cung cấp định kỳ theo tuần, tháng, trước các vụ sản xuất từ 1-2 tháng và khi xuất hiện tình huống đột xuất.
Đây là cơ sở để các địa phương bố trí cơ cấu sản xuất phù hợp, tránh tình trạng gieo trồng vượt khả năng cấp nước; đồng thời chủ động giãn thời vụ, giảm hoặc dừng sản xuất ở những diện tích không bảo đảm nước tưới nhằm hạn chế thiệt hại.
Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp phát biểu kết luận tại Hội nghị "Sơ kết công tác sản xuất trồng trọt và phòng chống hạn hán; triển khai kế hoạch năm 2027 vùng Duyên Hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên". Ảnh: NVCC
Công trình thủy lợi phát huy hiệu quả, nhưng vẫn cần tiếp tục đầu tư
ĐS&PL: Nhìn từ những đợt hạn hán, xâm nhập mặn trước đây, đâu là những hạn chế cần khắc phục và định hướng lâu dài để nâng cao khả năng chống chịu của ngành Nông nghiệp?
Ông Nguyễn Tùng Phong: Qua thực tiễn các đợt hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn do ảnh hưởng của El Nino những năm gần đây, bên cạnh kết quả đạt được, vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục khắc phục.
Trước hết, khả năng chủ động bảo đảm nguồn nước tại một số khu vực còn hạn chế. Hệ thống công trình thủy lợi chưa đáp ứng đồng đều nhu cầu của các vùng sản xuất. Điển hình, tại Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, các công trình thủy lợi mới đáp ứng được dưới 30% tổng diện tích canh tác nông nghiệp của khu vực. Vì vậy, cần quan tâm hơn đến việc tích trữ nước tại chỗ và kết nối các nguồn nước dự phòng.
Công tác dự báo, chia sẻ thông tin và phối hợp vận hành công trình giữa các địa phương cũng cần tiếp tục được nâng cao. Ở một số nơi, tổ chức sản xuất chưa thực sự gắn với khả năng nguồn nước, làm tăng nguy cơ thiệt hại khi hạn hán, xâm nhập mặn diễn biến bất lợi.
Về lâu dài, việc bảo đảm an ninh nguồn nước cần được triển khai theo định hướng tại Kết luận số 36-KL/TW ngày 23/6/2022 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh nguồn nước và an toàn đập, hồ chứa nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và Quyết định số 847/QĐ-TTg ngày 14/7/2023 của Thủ tướng Chính phủ về quy hoạch phòng, chống thiên tai và thủy lợi thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Các nhiệm vụ trọng tâm gồm đầu tư xây dựng tuyến kết nối, điều hòa, chuyển nước; nâng cấp hệ thống thủy lợi lớn; nâng cao dung tích các hồ chứa có tiềm năng nguồn nước; xây dựng hồ chứa mới và hiện đại hóa vận hành công trình,…. Song song với đó là nâng cao năng lực dự báo hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn.
Đặc biệt, cần gắn đầu tư thủy lợi với quy hoạch sản xuất nông nghiệp, bố trí mùa vụ và cơ cấu cây trồng phù hợp với điều kiện nguồn nước, sinh thái từng vùng. Việc chuyển đổi sản xuất phải có định hướng, hướng dẫn kỹ thuật và liên kết tiêu thụ để hạn chế rủi ro, chi phí cho người dân.
Quan điểm xuyên suốt là không chỉ tập trung ứng phó khi hạn mặn xảy ra, mà phải chủ động phòng ngừa từ sớm, quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn nước, lấy an ninh nguồn nước và sinh kế bền vững của người dân làm mục tiêu lâu dài.
ĐS&PL: Xin ông đánh giá hiệu quả của những công trình, dự án đã hoàn thành liên quan chống sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn tại Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và cả nước nói chung?
Ông Nguyễn Tùng Phong: Đối với các công trình đã hoàn thành, thực tế cho thấy nhiều dự án thủy lợi phát huy hiệu quả rõ rệt trong điều tiết nguồn nước, phục vụ sản xuất và dân sinh. Các công trình tiêu biểu đã hoàn thành trong thời gian qua, như: Hệ thống thủy lợi Quản Lộ - Phụng Hiệp, hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé, cống âu Nguyễn Tấn Thành, các cống âu Rạch Mọp, Vàm Bà Lịch ở khu vực ĐBSCL; hệ thống Thủy lợi Tân Mỹ, hồ chứa Ia Mor, hồ sông Chò ở khu vực Trung Bộ,…
Các công trình đã đáp ứng được việc điều tiết chế độ nước theo yêu cầu sản xuất và dân sinh, là giải pháp quan trọng và mang lại hiệu quả cao, luôn được Nhà nước quan tâm bố trí kinh phí thực hiện từ nhiều năm nay. Trong đợt xâm nhập mặn lịch sử năm 2015-2016 tại ĐBSCL, khoảng 405.000ha diện tích sản xuất nông nghiệp bị thiệt hại, đồng thời việc cấp nước sinh hoạt bị ảnh hưởng đối với khoảng 210.000 hộ dân.
Đến mùa khô năm 2019-2020, ranh mặn 4g/l lớn nhất xâm nhập sâu hơn từ 3-9km so với năm 2015-2016. Tuy nhiên, nhờ sự chỉ đạo, điều hành và triển khai các giải pháp ứng phó, trong đó có việc đẩy nhanh tiến độ thi công, đưa các dự án thủy lợi vào vận hành sớm hơn kế hoạch từ 6-13 tháng, thiệt hại đã giảm đáng kể.
Các công trình đầu tư trong giai đoạn này trực tiếp kiểm soát xâm nhập mặn khoảng 83.000ha và hỗ trợ kiểm soát ảnh hưởng xâm nhập mặn cho khoảng 300.000ha. Tổng diện tích gieo trồng bị thiệt hại trong đợt 2019-2020 còn khoảng 84.300ha, tương đương 20,9% so với năm 2015-2016; số hộ dân bị thiếu nước sinh hoạt khoảng 96.000 hộ, bằng 46% so với đợt hạn mặn trước đó.
Những kết quả này cho thấy đầu tư công trình thủy lợi có vai trò quan trọng trong giảm thiểu tác động của thiên tai. Tuy nhiên, công trình cần được vận hành đồng bộ, gắn với quy hoạch nguồn nước và tổ chức sản xuất phù hợp thì mới phát huy hiệu quả lâu dài.
Cống Cái Lớn có 11 van, sau khi đi vào hoạt động đã phát huy hiệu quả rõ rệt trong điều tiết nguồn nước, phục vụ sản xuất và dân sinh. Ảnh: Hàm Yên.
ĐS&PL: Ở quy mô quốc gia và địa phương, theo ông cần có thêm những giải pháp nào để chủ động ngăn chặn, giảm thiểu rủi ro và thiệt hại do hạn hán, xâm nhập mặn?
Ông Nguyễn Tùng Phong: Để chủ động ứng phó với hạn hán, xâm nhập mặn và các hiện tượng khí hậu cực đoan, cần chuyển mạnh từ tư duy ứng phó khi thiên tai xảy ra sang chủ động phòng ngừa từ sớm, từ xa, với sự phối hợp đồng bộ giữa Trung ương và địa phương.
Ở quy mô quốc gia, cần tiếp tục nâng cao chất lượng dự báo, cảnh báo hạn hán, xâm nhập mặn và nguồn nước; xây dựng các kịch bản ứng phó tương ứng với từng mức độ rủi ro, dựa trên diễn biến khí hậu, nguồn nước từ thượng nguồn và nhu cầu sử dụng nước trong nước.
Đồng thời, cần tăng cường chia sẻ dữ liệu, phối hợp điều hành nguồn nước giữa các ngành, địa phương và vùng; tiếp tục rà soát, đầu tư hoàn thiện các công trình thủy lợi trọng yếu, nâng cao khả năng điều tiết, trữ nước và kết nối nguồn cấp nước.
Ở cấp địa phương, các kịch bản cần được cụ thể hóa thành phương án hành động phù hợp với từng vùng, từng công trình và từng loại hình sản xuất. Trong đó, phải xác định rõ khu vực có nguy cơ thiếu nước, nguồn nước dự phòng, thứ tự ưu tiên cấp nước khi xảy ra tình huống bất lợi; chuẩn bị phương án vận hành công trình, nạo vét kênh dẫn khi cần thiết, tổ chức trữ nước tại chỗ và bố trí thời vụ, cơ cấu cây trồng phù hợp.
Đặc biệt, thông tin cảnh báo cần đến với người dân kịp thời để chủ động kế hoạch sản xuất, tránh xuống giống khi chưa bảo đảm nguồn nước.
Bên cạnh vai trò của cơ quan quản lý nhà nước, cần phát huy sự tham gia của cộng đồng, hợp tác xã và doanh nghiệp trong sử dụng nước tiết kiệm, chia sẻ nguồn nước và hỗ trợ người dân khi xảy ra rủi ro. Các phương án ứng phó cũng cần được rà soát, cập nhật thường xuyên, tổ chức kiểm tra và diễn tập để bảo đảm khả năng triển khai ngay khi cần thiết.
Điều quan trọng nhất là phải chuẩn bị trước cả về kịch bản, công trình, nguồn lực và tổ chức thực hiện. Khi dự báo được chuyển hóa thành hành động cụ thể, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp và sự tham gia chủ động của người dân, chúng ta mới có thể giảm thiểu thiệt hại, bảo đảm an ninh nguồn nước và duy trì sinh kế bền vững trước những diễn biến ngày càng khó lường của khí hậu.
ĐS&PL: Trân trọng cảm ơn ông!