Thời gian gần đây, trên mạng xã hội xuất hiện nhiều nội dung cho rằng vaccine COVID-19 của Pfizer và Moderna có thể “gây ung thư”, dựa trên một bài báo đăng trên tạp chí Oncotarget và con số được nhắc đi nhắc lại là “333 ca ung thư tại 27 quốc gia sau tiêm”. Những thông tin này nhanh chóng lan truyền, đánh mạnh vào tâm lý lo lắng của người đọc và trở thành “bằng chứng” được các nhóm phản đối vaccine khai thác triệt để.
Theo bác sĩ Dương Minh Tuấn, khoa Nội tiết – Đái tháo đường, Bệnh viện Bạch Mai, các lập luận nói trên chủ yếu tác động vào cảm xúc, trong khi nền tảng bằng chứng khoa học để khẳng định vaccine mRNA gây ung thư hiện vẫn rất mỏng. Việc gán ghép các ca ung thư xảy ra sau tiêm vaccine thành mối quan hệ nhân quả là sai về phương pháp khoa học.
Bài báo trên Oncotarget thường được viện dẫn thực chất là một bài tác giả tổng hợp các ca lâm sàng (case reports), chuỗi ca bệnh (case series) và một số quan sát rải rác nhằm phát hiện tín hiệu ban đầu.
Vấn đề nằm ở chỗ, các case report/case series chỉ cho thấy một sự kiện xảy ra sau một sự kiện khác, chứ không thể chứng minh nguyên nhân.
“Những tổng hợp kiểu “333 ca” thường không có mẫu số (bao nhiêu người đã tiêm?), không có nhóm chứng, không thể ước tính nguy cơ tăng hay không tăng so với tỷ lệ nền trong cộng đồng. Với hàng tỷ liều vaccine đã được tiêm trên toàn cầu, việc có người “vừa tiêm vài ngày hoặc vài tuần thì phát hiện ung thư” là điều chắc chắn sẽ xảy ra về mặt xác suất, bởi ung thư vẫn xuất hiện mỗi ngày trong dân số”, bác sĩ Tuấn thông tin.
Muốn kết luận vaccine gây ung thư hay không, cần có các dữ liệu dịch tễ học chất lượng cao: nghiên cứu đoàn hệ lớn, thiết kế tốt, theo dõi đủ dài, có điều chỉnh các yếu tố nhiễu và cho kết quả nhất quán giữa nhiều nghiên cứu. Một chùm ca bệnh riêng lẻ không thể đưa ra kết luận nhân quả.
Theo bác sĩ Tuấn, trong các ca bệnh được liệt kê, có những trường hợp khối u hoặc lymphoma được phát hiện ở vùng nách hoặc cánh tay cùng bên tiêm. Tuy nhiên, hạch phản ứng vùng nách sau tiêm vaccine mRNA là hiện tượng đã được ghi nhận. Chính tình trạng này có thể khiến người bệnh đi khám, siêu âm hoặc chụp PET-CT và từ đó phát hiện tình cờ một tổn thương đã tồn tại từ trước.
Một số trường hợp lymphoma bùng phát sau kích thích miễn dịch (nhiễm virus, tiêm vaccine, dùng thuốc sinh học) có thể xảy ra ở những người vốn đã có bệnh nền hoặc tổn thương tiền ung thư. Tuy nhiên, để khẳng định “do vaccine gây ra” cần bằng chứng mạnh hơn rất nhiều, bao gồm dữ liệu dịch tễ, cơ chế sinh học và việc loại trừ các yếu tố nhiễu.
Vaccine có gây bệnh tim mạch, tự miễn, vô sinh?
Lý giải thêm về các thông tin liên quan đến bệnh tim mạch, tự miễn và vô sinh, bác sĩ Tuấn cho biết:
- Bệnh tim mạch (viêm cơ tim/viêm màng tim): Đây là tác dụng phụ hiếm nhưng đã được ghi nhận. CDC nêu rõ có bằng chứng ủng hộ mối liên quan nhân quả với vaccine mRNA, chủ yếu ở nam giới trẻ sau liều thứ hai. Tuy nhiên, tác dụng phụ hiếm gặp không đồng nghĩa với việc “vaccine gây hại tim mạch tràn lan”, và càng không thể suy diễn sang việc gây ung thư.
- Vô sinh: Dữ liệu từ các nghiên cứu về IVF và các tổng quan gần đây nhìn chung cho thấy vaccine COVID-19 không gây ảnh hưởng bất lợi đáng kể đến kết cục điều trị IVF. Một số nghiên cứu về vaccine bất hoạt trong bối cảnh IVF có kết quả khác nhau, nhưng đó là vấn đề riêng, không thể dùng để kết luận vaccine mRNA gây vô sinh.
- Tự miễn: Có những ca bệnh rải rác được ghi nhận sau tiêm, song dữ liệu hiện nay chưa đủ mạnh để khẳng định vaccine gây bùng phát bệnh tự miễn trên quy mô dân số nếu không có các nghiên cứu dịch tễ học chất lượng cao.
Đừng đánh tráo khái niệm nghiên cứu
Đồng quan điểm với bác sĩ Tuấn, TS Nguyễn Hồng Vũ, Viện Nghiên cứu Ung thư City of Hope (California, Mỹ), khẳng định: xét trên góc độ khoa học, bài báo đăng trên Oncotarget không phải là “bằng chứng” tuyên bố rằng vaccine COVID-19 gây ung thư. Cách diễn giải này là sai về mặt khoa học và đánh tráo bản chất nghiên cứu.
Theo TS Vũ, đây là một scoping review, tức là dạng tổng hợp nhằm phát hiện tín hiệu giả thuyết (hypothesis-generating). Phần lớn dữ liệu dựa trên các case reports hoặc case series nhỏ – loại bằng chứng yếu nhất trong tháp chứng cứ y học. Bài báo không có thiết kế thử nghiệm, không có nhóm đối chứng chặt chẽ, cũng không đưa ra ước tính nguy cơ tuyệt đối hay nguy cơ tương đối ở cấp độ dân số.
Nói cách khác, nghiên cứu này không đủ điều kiện để kết luận mối quan hệ nhân – quả. Chính các tác giả cũng nhấn mạnh rằng những quan sát được nêu ra chỉ là “tín hiệu sớm” và không cho phép suy luận vaccine gây ung thư.
Theo TS Vũ, việc một chẩn đoán ung thư xuất hiện sau tiêm vaccine chỉ cho thấy mối liên hệ về mặt thời gian, chứ không chứng minh được nguyên nhân. Trong bối cảnh hàng tỷ liều vaccine đã được tiêm, việc xuất hiện một số ca ung thư “sau tiêm” là điều chắc chắn xảy ra về mặt xác suất, ngay cả khi vaccine hoàn toàn không liên quan. Đại dịch COVID-19 còn làm gián đoạn sàng lọc và điều trị, khiến nhiều trường hợp ung thư bị phát hiện muộn hoặc tiến triển nhanh – đây là yếu tố nhiễu lớn mà các báo cáo ca bệnh không kiểm soát được.
TS Vũ cũng chỉ ra rằng các bài báo dạng case report có thiên lệch công bố rất mạnh: những hiện tượng “bất thường” sau tiêm dễ được báo cáo, trong khi hàng triệu trường hợp không gặp vấn đề gì thì không được nhắc tới. Điều này làm phóng đại cảm giác rủi ro nếu bị suy diễn cho cộng đồng.
“Ngay trong bài tổng quan này, các nghiên cứu hồi cứu quy mô lớn, với hàng triệu người tham gia, không đưa ra bằng chứng thuyết phục cho thấy vaccine làm tăng nguy cơ ung thư”, TS Vũ nhấn mạnh.
Ngoài ra, nhiều nghiên cứu độc lập tại các quốc gia khác nhau cho thấy vaccine giúp giảm mạnh số ca nhập viện và tử vong do COVID-19 ở bệnh nhân ung thư, hỗ trợ duy trì điều trị và qua đó giảm gánh nặng bệnh tật. Một số dữ liệu còn gợi ý vaccine có thể cải thiện đáp ứng miễn dịch ở bệnh nhân đang dùng liệu pháp miễn dịch, dù vấn đề này vẫn cần tiếp tục được kiểm chứng.
TS Vũ khẳng định, việc sử dụng bài báo này để kết luận “vaccine gây ung thư” là sự đánh tráo giữa phát hiện tín hiệu (signal detection) và chứng minh nhân quả (causality), bỏ qua toàn bộ bối cảnh, hạn chế và cảnh báo của chính tác giả, đồng thời chọn lọc bằng chứng và thổi phồng rủi ro.
“Cũng giống như việc không thể kết luận nước là nguyên nhân gây ung thư chỉ vì tất cả những người mắc ung thư đều từng uống nước”, bác sĩ Vũ nói.
Ngọc Minh
