Chính là Nhà máy xử lý nước thải Bình Hưng tại TP.HCM.
Với công suất thiết kế 469.000 m³/ngày đêm (469.000 m³ khối tương đương khoảng 187 bể bơi Olympic), Nhà máy xử lý nước thải Bình Hưng tại TP.HCM là công trình hạ tầng môi trường quy mô lớn, góp phần giải quyết bài toán nước thải đô thị và cải thiện môi trường các tuyến kênh nội thành. Công trình được công bố là nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt có công suất lớn nhất Việt Nam.
Điểm đáng chú ý của công trình không chỉ nằm ở quy mô nhà máy mà còn ở hệ thống thu gom nước thải được xây dựng đồng bộ. Dự án phục vụ lưu vực rộng hơn 2.500 ha, với dân số khoảng 1,8 triệu người theo số liệu công bố khi khánh thành. Tổng mức đầu tư 11.300 tỷ đồng, trong đó nguồn vốn ODA của Nhật Bản 9.850 tỷ (chiếm 87% tổng mức đầu tư).
Để xử lý nước thải đô thị, xây dựng một nhà máy có công suất lớn là chưa đủ. Nước thải từ các khu dân cư cần được thu gom và vận chuyển đến nơi xử lý thay vì xả trực tiếp ra kênh rạch.
Trong giai đoạn 2, dự án xây dựng hệ thống cống bao thu gom nước thải dài khoảng 34 km, cùng các công trình thoát nước, giếng tách dòng và nâng cấp trạm bơm Đồng Diều. Nhiều hạng mục được thi công sâu dưới lòng đất, đi qua những khu vực đông dân cư.
Theo phương án vận hành được công bố, nước thải từ các khu vực thuộc lưu vực dự án được thu gom, đưa về trạm bơm Đồng Diều, sau đó chuyển đến Nhà máy Bình Hưng. Tại đây, nước thải trải qua các công đoạn xử lý trước khi được xả ra môi trường theo quy định.
Việc đầu tư đồng bộ mạng lưới thu gom và nhà máy có ý nghĩa quan trọng. Nếu nước thải không được dẫn về hệ thống xử lý, công suất của nhà máy sẽ không thể phát huy đầy đủ vai trò trong việc cải thiện môi trường đô thị.
Xử lý nước thải bằng công nghệ sinh học
Một đặc điểm đáng chú ý của Nhà máy Bình Hưng là ứng dụng công nghệ xử lý sinh học, sử dụng vi sinh vật để phân hủy các chất ô nhiễm hữu cơ trong nước thải.
Nước thải đầu vào được xử lý qua các công đoạn phù hợp trước khi chuyển đến các bể xử lý tiếp theo. Song song với quá trình xử lý nước, phần bùn phát sinh cũng cần được thu gom, tách nước và quản lý theo quy trình kỹ thuật.
Công trình được trang bị các thiết bị phục vụ vận hành như máy thổi khí, thiết bị tách nước bùn bằng phương pháp ly tâm và máy cạo bùn. Đây là những thành phần hỗ trợ quá trình xử lý, duy trì điều kiện hoạt động của hệ thống và quản lý lượng bùn phát sinh.
Công nghệ sinh học giúp xử lý các chất ô nhiễm hữu cơ, nhưng chất lượng nước sau xử lý vẫn cần được đánh giá thông qua kết quả quan trắc và các chỉ tiêu môi trường cụ thể. Công suất thiết kế lớn không đồng nghĩa với việc toàn bộ nước thải trong lưu vực đã được thu gom hoặc chất lượng các dòng kênh đã được cải thiện hoàn toàn.
Bên cạnh chức năng xử lý nước thải, Nhà máy Bình Hưng còn được định hướng trở thành điểm đến phục vụ học tập và giáo dục môi trường.
Theo thông tin đăng trên Báo Nhân Dân, khu vực nhà máy được quy hoạch với cây xanh, phòng thí nghiệm và hệ thống quan trắc, hướng tới hoạt động tham quan, đào tạo và nâng cao nhận thức cộng đồng.
Đây là hướng tiếp cận đáng chú ý đối với một công trình hạ tầng môi trường vốn thường ít được người dân nhìn thấy. Khi được tổ chức phù hợp, nhà máy không chỉ thực hiện nhiệm vụ kỹ thuật mà còn có thể giúp cộng đồng hiểu rõ hơn về hành trình xử lý nước thải sinh hoạt trước khi nước trở lại môi trường.
Tuy nhiên, giá trị của một nhà máy xử lý nước thải không chỉ nằm ở số vốn đầu tư hay công suất thiết kế. Hiệu quả còn phụ thuộc vào khả năng thu gom nước thải, lưu lượng thực tế được xử lý, chất lượng nước đầu ra, việc quản lý bùn thải và hoạt động bảo trì trong suốt vòng đời công trình.
Minh Khang