Sau khi Sir Patrick Stewart rời cõi tạm ngày 28/10, phần bình luận dưới trailer phim Avengers: Doomsday trên YouTube trở thành nơi giới mộ điệu viết những lời từ tạ. Thật tình cờ và ý nghĩa khi gương mặt đầu tiên xuất hiện trong đoạn phim tràn ngập siêu sao ấy là Sir Patrick, trong lần cuối cùng ông vào vai Giáo sư X sau hai mươi sáu năm. Ông đóng vai ấy tự nhiên tới mức người xem ngỡ ông đang là chính mình. Nhưng khi nhìn lại toàn bộ cuộc đời của người vừa rời đi, ta thấy ông không sinh ra đã là một nhà sư phạm, mà học cách vào vai ấy thông qua những người thầy lớn.
Người về từ Dunkirk
Mùa thu 1939, Đức xâm lược Ba Lan. Anh đưa Lực lượng Viễn chinh gần bốn trăm nghìn người sang Pháp, dàn dọc biên giới Bỉ. Suốt tám tháng, họ đào hào, tập trận và chờ đợi một trận đánh không bao giờ tới.
Mùa hè 1940, đạn pháo rốt cục đã nổ, nhưng không phải trước mặt mà là sau lưng họ. Quân Đức làm điều không ai ngờ: đi xuyên rừng Ardennes và tập kích từ phía sau. Lính Anh bị cắt rời, bị phân tán, bị bao vây, và chỉ còn một cách là tháo chạy ra biển.
Tới hải cảng Dunkirk, tướng sĩ Anh đành vứt lại xe pháo và những quân trang quân dụng nặng nề, lao ra biển, trầm mình trong nước lạnh và chờ đợi phép màu.
Từ quê nhà, chính phủ Winston Churchill phát đi lời kêu gọi trên đài phát thanh: bất kỳ ai có thuyền máy hãy đăng ký cứu hộ, mang những người con tuyệt vọng của nước Anh về nhà, để bảo toàn lực lượng cho một cuộc chiến hứa hẹn sẽ còn cam go hơn. Đáp lời, hàng trăm chủ thuyền đánh cá, phà qua sông và du thuyền tư nhân đã cùng nhau vượt eo biển cho một cuộc giải cứu mà sau này được gọi là "phép màu Dunkirk". Hải quân Anh ban đầu chỉ đặt mục tiêu cứu được 45.000 binh sĩ; rốt cục, sau mười ngày, hơn 330.000 người đã trở về.
Nhưng phép màu cũng có giới hạn của nó. Khi Churchill tuyên bố cuộc di tản hoàn tất, ở Pháp vẫn còn hàng ngàn lính Anh kẹt lại vì lạc đơn vị, không kịp ra bờ biển. Một trong những người kẹt lại ấy là trung sĩ Alfred Stewart, người phải nghe Thủ tướng nước mình công bố với cả thế giới rằng màn giải cứu thần kỳ đã hoàn tất. Không còn ai tìm kiếm, Alfred và các đồng đội phải tự tìm đường về quê hương để tiếp tục cuộc chiến.
Ở nhà, vợ Alfred sinh đứa con trai thứ ba trong nỗi hoang mang về sinh mệnh của chồng. May thay, Alfred sống sót. Nhưng ông không về nhà sum họp mà tiếp tục ở lại quân đội, chiến đấu thêm năm năm ở Trung đoàn Dù. Đứa bé phải trải qua năm năm đầu đời không có cha bên cạnh ấy là Patrick Stewart.
Rồi đến một ngày, chinh chiến tàn, Alfred trở về, lành lặn bên ngoài nhưng tan nát bên trong. Ông trở thành quái vật trong nhà vì rượu và bạo lực. Cậu bé Patrick lớn lên giữa những trận quát nạt và đòn roi, chứng kiến bố đánh mẹ ngay trước mắt mình.
Trong cuộc sống ngột ngạt ấy, số phận run rủi cho Patrick tìm thấy một cánh cửa để thoát ly khỏi mái nhà "buồn tẻ, khó chịu và đáng sợ", theo cách mô tả của chính ông sau này. Mở cánh cửa ấy cho cậu là...
Người thầy ở Mirfield
"Hồi 4, cảnh 1", thầy giáo Cecil Dormand nói với đám học trò đang ngồi trước cuốn The Merchant of Venice của William Shakespeare, trong một lớp học ở thị trấn dệt Mirfield, vào một buổi sáng năm 1952.
Rồi ông chỉ vào cậu bé mười hai tuổi ngồi giữa lớp: "Stewart, cậu là Shylock".
Hồi 4, cảnh 1 là màn xử án: Shylock, người Do Thái cho vay nặng lãi, đứng trước tòa án Venice đòi một cân thịt trên người kẻ từng nhổ vào mặt mình. Câu mở đầu của Shylock trong cảnh ấy là những chữ Shakespeare đầu tiên cậu đọc trong đời, và cậu gần như không hiểu gì.
Nhưng Dormand không cho đọc trả bài. Ông bắt đọc to, như một người đang nói với kẻ thù của mình. Và cậu bé nhận ra một điều lạ: cậu thích cảm giác của những chữ ấy trong miệng, với âm giai và nhịp điệu của chúng. Sau này ông tả buổi sáng đó như thể một nhà văn đã mất bốn trăm năm trước đưa tay ra mời, như thể có một cái tôi riêng tư, giấu kín bên trong, vừa được thả ra. Con đường vạn dặm để trở thành huyền thoại của sân khấu Royal Shakespeare Company đã khởi đầu như thế.
Gọi là con đường vạn dặm vì nó không dễ dàng như nhiều người vẫn tưởng. Patrick không phải một ngôi sao thiên bẩm, vừa bước ra đã làm bừng sáng sân khấu. Nhưng trong giai đoạn mới chớm của sự nghiệp, Dormand - giáo viên chủ nhiệm kiêm dạy môn ngữ văn - đã trang bị cho cậu rất nhiều hành trang cùng chỉ dẫn. Cùng năm ấy, Dormand kéo cậu vào đoàn kịch của trường, tập và diễn cùng các thầy cô trong vở hài kịch thời chiến The Happiest Days of Your Life, với vai cậu học trò Hopcroft Minor.
Lần đầu tiên đứng trên sân khấu, diễn cho hơn một trăm khán giả, Patrick không hề run, lại còn thấy có gì đó thân thuộc. Đó là khoảnh khắc ông nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong sự nghiệp: sân khấu luôn cho ông cảm giác an toàn mà ở nhà không bao giờ có được.
Không lâu sau, Dormand gửi cậu đi một khóa học diễn xuất nội trú tám ngày trong kỳ nghỉ Phục sinh. Đó là những buổi học diễn xuất chính quy đầu tiên của ông. Nhiều năm sau ông mới biết Dormand đã tự bỏ tiền túi trả học phí.
Dormand không chỉ chăm cậu bé. Năm 2021, khi người thầy qua đời ở tuổi 96, Stewart tiết lộ trong bài viết tiễn đưa: chính Dormand đã mời Alfred Stewart làm chủ tịch hội phụ huynh, để trao cho cha của Patrick chút tầm quan trọng và phẩm giá.
Vài ngày trước khi Patrick rời trường ở tuổi 15, Dormand hỏi nhỏ: cậu có bao giờ nghĩ đến việc làm diễn viên chuyên nghiệp không? Cậu bật cười. Đến lúc ấy, sân khấu vẫn là một chỗ trốn nhiều hơn một con đường nghề nghiệp nghiêm túc. Cậu chỉ đơn giản tận hưởng cảm giác không phải là Patrick Stewart trong lúc diễn.
Bằng chứng là, thông qua một người quen, cậu xin vào làm tại một tòa soạn báo. Tòa soạn giao cho cậu hẳn một khu vực. Cậu ra sức làm việc nhưng vẫn giữ nhịp sinh hoạt đều đặn ở sân khấu. Báo là đi làm, kịch là đi chơi, và người ta thường thích đi chơi hơn đi làm. Với cậu, một buổi tập quan trọng hơn một phiên họp hội đồng thị trấn.
Mỗi khi lịch bị trùng, cậu xoay xở bằng ba cách: nhờ người đi thay; gọi điện cho một mối quen trong hội đồng để lấy chi tiết viết lại; cách cuối cùng là bịa. Cậu bị lộ vào cái đêm một nhà máy dệt lớn trong thị trấn bốc cháy. Tòa soạn nhốn nháo tìm người, phó biên tập bảo khỏi lo, Patrick đang ở ngay cạnh đó, trong phiên họp hội đồng. Nhưng cậu không ở gần đám cháy; cậu đang tập kịch suốt thời gian đó. Sáng hôm sau, biên tập viên ra tối hậu thư: bỏ hết cái trò diễn kịch lố bịch đi mà làm công việc cậu được trả lương. Tự ái tuổi trẻ bốc lên, cậu gói máy chữ, đi về nhà, tuyên bố sẽ làm diễn viên. Cả nhà ngơ ngác hỏi: làm cách nào? Cậu nói chưa biết, nhưng sẽ tìm ra.
Cậu mất hai năm mới vào được trường Bristol Old Vic bằng học bổng, với những chỉ dẫn của Dormand. Sau này, khi đã thành danh, Stewart trả ơn Dormand hai lần: trao bằng tiến sĩ danh dự cho thầy khi ông làm Hiệu trưởng danh dự Đại học Huddersfield, và mời thầy dự bữa tiệc trưa ngày ông nhận tước hiệp sĩ. Hôm đó, khi mọi người được mời nói vài lời, Dormand hỏi: giờ gọi nó là gì đây, mấy chục năm nó gọi tôi là Sir!
Năm 2020, Stewart vẫn gọi điện chúc mừng sinh nhật 95 của thầy. Dormand mất ở tuổi 96. Trong bài tiễn biệt, Patrick viết Dormand là người quan trọng nhất đời mình.
Còn Shylock thì theo ông suốt chặng đường làm nghề. Ông đóng vai ấy sáu lần trên sân khấu chuyên nghiệp, lần cuối ở Royal Shakespeare Company năm 2011, khi đã là Sir Patrick. Giữa sáu lần ấy, có vô số lần ông cảm thấy hoang mang khi bóng ma ngày cũ quay lại. Và ở những đoạn trầm kha ấy, có một câu nói luôn kéo ông đứng dậy, đến từ...
Người thầy ở Bristol
Duncan Ross, học trò gọi là Bill, là hiệu trưởng trường kịch Bristol Old Vic từ 1956 đến 1961, những năm mà cựu học sinh sau này gọi là thời hoàng kim của trường dù tiền bạc eo hẹp. Patrick Stewart đến đó năm 1957, 17 tuổi, với giọng Yorkshire nặng mà nhiều thầy cô khuyên nên bỏ, trừ Bill.
Cũng chính Bill chỉ cho cậu một sự thật: diễn xuất là kỹ thuật có thể học, không cần thiên bẩm. Bill dạy cậu cách làm việc với kịch bản: ngồi lại một mình với nó, với sổ và bút, đi qua chuỗi câu hỏi về nhân vật rồi ghi chú từng chút một. "Rồi đến một ngày cậu sẽ không cần tới nó nữa, mọi câu trả lời sẽ hiện ra theo bản năng" - Patrick xác nhận điều Bill nói đã thành sự thật. Nhưng ông vẫn giữ thói quen đọc kịch bản nhiều lần và ghi xuống những cảm xúc nó gợi nên trong mình.
Nhưng câu mà Patrick mang theo trong hành trang vào đời không nói về phương pháp. Khi Patrick chuẩn bị hết khóa học hai năm, ông nói với cậu: "Patrick, điều quan trọng nhất cậu phải hiểu là cậu sẽ không bao giờ đạt được thành công bằng cách tìm cách chống lại thất bại."
Cậu học trò gật đầu. Sau này, ông kể lại với giọng hơi tự giễu: "Tôi tưởng tôi hiểu. Phải, đơn giản dễ hiểu mà: phải dám liều, phải can đảm, phải đánh cược. Nhưng phải mất hơn ba mươi năm lăn lộn trong nghề tôi mới hiểu trọn vẹn điều Ross muốn truyền đạt." Bởi vì tính từ thời điểm nghe câu nói đó (1959) đến tận thập niên 1990, khi đã là thuyền trưởng Picard lừng danh của loạt Star Trek, ông vẫn thường xuyên tự phán xét mình mỗi lần bước ra sàn diễn.
Câu nói của Bill trở thành một nghi thức trước khi ông bước sang bên kia cánh cửa - cánh cửa mà người thầy đầu tiên, Dormand, đã mở ra cho ông. Trước khi nhập vai, ông nói thành tiếng với chính mình, đủ to để nghe nhưng đủ khẽ để người khác không phát hiện. Câu ấy là:
Tôi đếch quan tâm!
Rồi ông bước ra sân khấu từ cánh gà, hoặc bắt đầu vào vai sau tiếng "action" của đạo diễn. Càng ngày nó càng hiệu nghiệm. Ông hiểu diễn xuất rốt cục chỉ là một công việc, và ông cắt đi "nỗi lo, căng thẳng và tất cả những thứ ngớ ngẩn chẳng giúp gì cho ai".
"Tôi đếch quan tâm" không chỉ là câu nói trước giờ diễn. Đó là cách ông chọn vai. Hãy nhìn vào danh sách những việc mà một hiệp sĩ của Hoàng gia Anh, một trong những diễn viên Shakespeare được kính trọng nhất thế hệ mình, đã nhận trong hai mươi năm cuối đời.
Ông lồng tiếng gần hai mươi năm cho Avery Bullock trong American Dad! - một phó giám đốc CIA dâm đãng, lố bịch, nói bậy không ngừng. Ông dẫn chuyện cho Ted, phim về một con gấu bông hút cần và chửi thề. Năm 2017, ở tuổi 77, ông lồng tiếng cho biểu tượng Cục Phân trong The Emoji Movie. Năm cuối đời, ông là một con cừu trong The Sheep Detectives và một cái đầu lợn trong series của Riz Ahmed.
Ông tự giễu mình trong show hài Extras của Ricky Gervais: một Patrick Stewart đang viết kịch bản phim mà nhân vật của ông có siêu năng lực làm quần áo phụ nữ tự rơi xuống, kể lại với vẻ mặt hoàn toàn nghiêm túc. Ông đóng một giám đốc opera đồng tính tán nhầm Frasier trong Frasier. Trước đó, giữa thời đỉnh cao Picard, ông đã nhận vai một nhà thiết kế nội thất đồng tính hở hang trong Jeffrey (1995).
Ông chơi từ vai bựa, như Blunt Talk (2015): Walter Blunt, người dẫn chương trình nghiện cocaine, bị bắt quả tang ngay tập đầu trong xe với một gái mại dâm chuyển giới, say khướt trèo lên nóc xe cảnh sát đọc Shakespeare. Đến tự đạp đổ hình tượng đã gây dựng, như Logan (2017): Charles Xavier ở tuổi chín mươi, mất trí, co giật, văng tục, phải được thay tã - để được trải nghiệm một Giáo sư X khác với hình tượng đã quen thuộc suốt mười bảy năm. Hay những vai nhỏ không cần ai để ý: một thầy dạy múa già cô độc trong Match (2014), một nghệ sĩ dương cầm sợ sân khấu trong Coda (2019), một Bosley phản bội trong Charlie's Angels cùng năm.
Nhiều người nói những vai đó ảnh hưởng tới hình ảnh của ông. Ông nói mình chỉ đang làm việc. Một diễn viên kính nghiệp là một người biết ơn từng vai diễn đến với mình. Năm 2017, ông nói chưa bao giờ đi tìm một nhân dạng Patrick Stewart rồi nhai đi nhai lại. Phương châm của ông là... đếch quan tâm tới cái tay Patrick ấy, cứ làm việc tốt nhất có thể, không mong nó dẫn tới điều gì sau đó, chỉ tập trung vào hiện tại. Lời dạy của Bill đã tạo ra một nghệ sĩ yêu nghề như thế. Một người tìm cách chống lại thất bại sẽ không nhận Cục Phân. Nhưng ông thì nhận, chỉ cần có thêm một ngày làm việc.
Khi nhìn lại Sir Patrick Stewart trong trailer Avengers: Doomsday, người ta không khỏi nghĩ về những ngày tháng cuối đời của ông. Năm năm trước, ông thừa nhận mình bắt đầu gặp khó khăn trong việc ghi nhớ kịch bản. Nhưng ông không bỏ nghề; ông nhận vai ít lại và kéo giãn thời gian học kịch bản ra. Nếu trước đây ông chỉ cần một ngày thì nay ông dành hẳn một tuần. Bệnh tật không khiến ông nghỉ ngơi; ông thay đổi thói quen làm việc để tiếp tục được làm việc.
Không chỉ là một diễn viên giỏi của cả sân khấu lẫn điện ảnh, ông còn là một người hoạt động xã hội sôi nổi. Ông nhận lời tham gia Combat Stress, tổ chức giúp các cựu binh bị PTSD, và Refuge, nhà tạm lánh cho phụ nữ và trẻ em bị bạo hành. Một tổ chức để cứu những người như cha, một tổ chức để cứu những người như mẹ và chính mình. Khi tên tuổi ông lớn hơn, những tổ chức và những cuộc vận động để xã hội quan tâm hơn đến các nạn nhân hậu chiến cũng theo đó mà lớn theo.
Và khi nhìn lại, Patrick nhận ra những đòn roi ngày nào chính là phân bón để tạo ra một diễn viên điềm đạm hôm nay. Nỗi sợ và những cơn giận đã trở thành nhiên liệu ông dùng cho vai diễn, từ rất lâu trước khi ông hiểu nó từ đâu ra. Và chính nỗi sợ đã đẩy ông đến một cánh cửa, bên kia là hai người cha - hai người thầy mà cuộc đời đã bù đắp cho ông - để ông tiếp tục trở thành thầy cho người khác, không phải qua bài giảng mà qua cách ông sống, làm việc, chọn vai và... đếch biết sợ thất bại.
Mimi