Thời gian gần đây, Bệnh viện Da liễu Trung ương tiếp nhận các trường hợp trẻ mắc giang mai bẩm sinh đến khám và điều trị nội trú. Thực trạng này gióng lên hồi chuông cảnh báo về việc sàng lọc, phát hiện và điều trị giang mai ở phụ nữ mang thai.
Đi khám vì tổn thương da, phát hiện giang mai
Mới đây, Bệnh viện Da liễu Trung ương tiếp nhận một bé gái 2 tháng tuổi nhập viện trong tình trạng xuất hiện nhiều sẩn đỏ có viền vảy ở đầu, lưng, tay, chân, lòng bàn tay và lòng bàn chân, kèm sốt cao. Các triệu chứng xuất hiện khoảng 2 tuần trước khi trẻ nhập viện.
Trước đó, trẻ được chẩn đoán viêm da cơ địa và điều trị nhưng không cải thiện. Khai thác tiền sử cho thấy trẻ là con thứ hai, sinh thường, đủ tháng. Đáng chú ý, trong suốt thai kỳ, người mẹ không được xét nghiệm sàng lọc giang mai và cũng không được điều trị bệnh.
Qua thăm khám lâm sàng, khai thác tiền sử sản khoa và thực hiện các xét nghiệm cần thiết, các bác sĩ chẩn đoán trẻ mắc giang mai bẩm sinh.
Sau 10 ngày điều trị, các tổn thương da của bệnh nhi cải thiện rõ rệt, toàn trạng ổn định. Trẻ được xuất viện và hẹn tái khám định kỳ để theo dõi đáp ứng điều trị bằng các xét nghiệm huyết thanh học.
BSNT Nguyễn Minh Hường, Phòng khám các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STIs), Bệnh viện Da liễu Trung ương, cho biết giang mai bẩm sinh là hậu quả của sự lây truyền xoắn khuẩn Treponema pallidum từ mẹ sang con trong thai kỳ.
Sự lây truyền thường xảy ra từ tháng thứ 4-5 của thai kỳ, khi màng rau thai mỏng hơn, tạo điều kiện để xoắn khuẩn giang mai xâm nhập vào thai nhi qua rau thai và gây bệnh.
Mức độ biểu hiện của bệnh phụ thuộc vào lượng xoắn khuẩn truyền từ mẹ sang con. Trong những trường hợp nặng, trẻ có thể gặp các biến chứng sản khoa như sảy thai, thai chết lưu, sinh non, thậm chí tử vong.
Theo BSNT Nguyễn Minh Hường, với những trường hợp nhẹ hơn, trẻ có thể chưa xuất hiện triệu chứng ngay khi chào đời. Sau vài ngày hoặc vài tháng, các tổn thương do giang mai mới bắt đầu xuất hiện. Đây được gọi là giang mai bẩm sinh sớm.
Trong khi đó, nếu các biểu hiện bệnh xuất hiện khi trẻ trên 2 tuổi, bệnh được gọi là giang mai bẩm sinh muộn.
Giang mai bẩm sinh sớm có thể gây các tổn thương da tương tự giang mai giai đoạn II ở người lớn. Trẻ có thể xuất hiện phỏng nước ở lòng bàn tay, bàn chân; bong vảy ở lòng bàn tay, bàn chân; sổ mũi, khụt khịt mũi; viêm xương sụn; nổi hạch; gan, lách to.
Một số trường hợp có thể gặp các biến chứng nghiêm trọng như viêm màng não, viêm màng mạch - võng mạc và các tổn thương ở nhiều cơ quan khác.
Ở trẻ mắc giang mai bẩm sinh muộn, các biểu hiện có thể bao gồm tổn thương mắt, tai, khớp, dị dạng xương và những di chứng do các tổn thương của giang mai bẩm sinh sớm để lại.
Sàng lọc trong thai kỳ là "tấm lá chắn" bảo vệ trẻ
TS.BS Trịnh Minh Trang, Phó phụ trách Phòng khám các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STIs), Bệnh viện Da liễu Trung ương, cho biết theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), riêng năm 2022, ước tính có khoảng 700.000 trường hợp giang mai bẩm sinh và khoảng 390.000 trường hợp có kết cục bất lợi của thai kỳ liên quan đến giang mai, bao gồm thai chết lưu, tử vong sơ sinh, sinh non và trẻ mắc giang mai bẩm sinh.
Đáng chú ý, phần lớn những trường hợp này có thể phòng tránh được nếu phụ nữ mang thai được sàng lọc và điều trị giang mai sớm.
Nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa giang mai bẩm sinh, TS.BS Trịnh Minh Trang khuyến cáo:
- Đối với phụ nữ mang thai: Tất cả phụ nữ cần thực hiện xét nghiệm sàng lọc giang mai ngay từ lần khám thai đầu tiên, trong 3 tháng đầu thai kỳ. Phát hiện và điều trị sớm cho người mẹ không chỉ giúp bảo vệ sức khỏe của mẹ mà còn là "tấm lá chắn" hiệu quả để phòng ngừa giang mai bẩm sinh cho trẻ.
- Đối với các cơ sở y tế: Cần tăng cường phối hợp liên chuyên khoa giữa Sản khoa, Da liễu, Nhi khoa và Xét nghiệm nhằm chủ động phát hiện, hội chẩn và điều trị kịp thời cho cả mẹ và trẻ. Đây là một trong những giải pháp quan trọng hướng tới mục tiêu loại trừ lây truyền giang mai từ mẹ sang con.
- Đối với cộng đồng: Quan hệ tình dục an toàn và duy trì lối sống lành mạnh là những biện pháp quan trọng giúp giảm nguy cơ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe cần tiếp tục được đẩy mạnh và triển khai sâu rộng.
Nâng cao nhận thức cộng đồng không chỉ góp phần giảm gánh nặng bệnh tật mà còn là giải pháp bền vững để bảo vệ sức khỏe của mỗi người, gia đình và thế hệ tương lai.
Ngọc Minh
