Ba loại hình nghệ thuật trải rộng từ điêu khắc, hội họa đến video art installation, ba nghệ sĩ đại diện cho ba thế hệ, ba bối cảnh văn hóa và ba cách tiếp cận nghệ thuật khác nhau. Được giám tuyển bởi nhà phê bình nghệ thuật Richard Vine (nguyên Managing Editor của Art in America, hiện sống và làm việc tại New York) triển lãm Hình và Hư Vô mang những khác biệt đó vào một cuộc đối thoại xoay quanh sự hiện diện và vắng mặt, cái hữu hình và vô hình, cũng như mối quan hệ giữa hình thể con người và không gian bao quanh nó.
Đinh Công Đạt
Trăn trở trước sự thiếu vắng ham muốn và tinh thần dấn thân mà ông quan sát thấy ở một bộ phận người trẻ hôm nay, Đinh Công Đạt tạo nên những hình tượng bằng fiberglass và gốm với kích thước gần với tỷ lệ người thật, biểu đạt một trạng thái xa cách được cách điệu hóa.
Một nhóm tác phẩm trong triển lãm gồm 9 cô gái trẻ với mái tóc bob thời thượng và những chiếc váy dài màu bạc buông tới mắt cá chân. Đứng, tựa hoặc ngồi, họ như đang chờ được giải thoát khỏi chính trạng thái “sẵn sàng” đầy phô trương của mình, một sự giải thoát không bao giờ đến.
Ở một nhóm tác phẩm khác, 8 nhân vật phi giới tính, không tóc, nước da nhợt nhạt, khoác áo choàng vàng, ngồi thành một hàng. Bất chấp trang phục lấp lánh, cố ý để hở một phần ngực, gương mặt họ vẫn hoàn toàn vô cảm. Dường như những con người này không thể phản ứng trước bất cứ điều gì, không khao khát điều gì và cũng không quyết định điều gì, kể cả giới tính của chính mình.
Gây bất an hơn nữa là 11 nhân vật nam đầu trọc, khoác trang phục đen buông dài. Những lớp áo choàng tung lên như thể họ đang tiến về phía trước ngược chiều gió, nhưng các nhân vật vẫn đứng bất động, gồng mình tại chỗ, với kích thước chỉ bằng khoảng ba phần tư tỷ lệ người thật, như thể bị thu nhỏ cả về thể chất lẫn tinh thần
Trong tất cả các nhóm tượng của Đinh Công Đạt, cảm giác về sự gắn kết xã hội chỉ tồn tại ở những điểm tương đồng trong ngôn ngữ cơ thể và trang phục. Ngược lại, mỗi nhân vật đều như đang mơ màng và khép kín hoàn toàn trong thế giới riêng, như thể tê liệt trước những người xung quanh và cả môi trường rộng lớn hơn. Trạng thái phân ly tâm lý này vượt ra ngoài sự bất an vụng về của hội chứng “đám đông cô đơn”, khiến ta nhìn những nhân vật sững sờ ấy như những linh hồn lạc lối, bề ngoài tuân theo căn tính tập thể nhưng bên trong lại tuyệt vọng.
Rodney Dickson
Trong khi đó, ánh nhìn của các nhân vật trong tác phẩm Rodney Dickson dường như hướng về một cõi xa hơn. Ngay cả khi đôi mắt họ gặp ánh mắt người xem, khoảng gần 100 chân dung toàn thân được vẽ trên những dải vải ga giường, một số đàn ông và phần lớn là phụ nữ, tất cả đều là bạn bè của nghệ sĩ đến từ nhiều nơi trên thế giới, dường như vẫn nhìn xuyên qua người đối diện để hướng tới một khoảng trống bao trùm.
Trong khi khuôn mặt hiện lên rõ nét, dễ nhận diện và đầy sức hút, cơ thể và trang phục lại mang một vẻ trong suốt như bóng ma. Những đường nét đồ họa đen trắng, cách xử lý sơn thô ráp với đôi chỗ điểm màu, tất cả được chủ ý làm phẳng và tưởng như đơn giản, nhấn mạnh sự căng thẳng giữa ý thức con người tự do, trôi nổi và sự giam giữ của nó trong một cơ thể, một vai trò xã hội, một địa điểm và một thời điểm cụ thể.
Tựa như những memento mori, lời nhắc về cái chết, các bức tranh vốn được tạo ra để khắc họa sự hiện diện của những người bạn của nghệ sĩ đồng thời cũng tưởng niệm sự vắng mặt của họ. Ngay cả khi các dải tranh được xếp sát hoặc chồng lấn lên nhau như những cư dân chen chúc trong thành phố, mỗi nhân vật vẫn dường như lơ lửng ở ranh giới giữa hiện diện và biến mất.
Nguyễn Trinh Thi
Với Nguyễn Trinh Thi, ý niệm về sự hiện diện và vắng mặt được đặt ngay trong chính địa điểm triển lãm. Tác phẩm sắp đặt đa phương tiện của cô được sáng tạo riêng cho An Fine Art Gallery trên đường Đồng Khởi, dựa trên mối liên hệ của địa điểm này với văn hóa rạp chiếu bóng Sài Gòn trước đây và lịch sử của chính tòa nhà, vốn từng là một rạp chiếu phim.
Sử dụng những bộ phim được quay tại Sài Gòn từ những năm 1950, kết hợp với âm thanh từ nhiều thời kỳ khác nhau, Nguyễn Trinh Thi để những hình ảnh của quá khứ du hành xuyên thời gian và trở lại nơi mà chúng từng đại diện.
Những con phố, tòa nhà và con người không còn tồn tại tạm thời hiện diện trở lại thông qua hình ảnh động và âm thanh. Thay vì coi hiện diện và vắng mặt là hai trạng thái đối lập, tác phẩm gợi mở rằng cái này tồn tại thông qua cái kia: những gì đã biến mất vẫn tiếp tục để lại dấu vết, trong khi những gì đang hiện diện cũng không ngừng trôi vào ký ức. Bởi vậy, chính địa điểm, lịch sử của nó và ánh sáng luôn biến đổi cũng trở thành một phần của tác phẩm.
Theo giám tuyển Richard Vine, các tác phẩm của Đinh Công Đạt, Rodney Dickson và Nguyễn Trinh Thi gợi mở một cuộc đối thoại giữa tư tưởng tâm linh phương Đông và tư tưởng hiện sinh phương Tây, giữa sự hiện diện và vắng mặt.
Với những người tiếp cận từ hệ tư tưởng thứ nhất, tính vĩnh hằng, biểu hiện trong một Hư Vô nghịch lý nhưng tràn đầy, vốn đã tồn tại bên trong chúng ta, cũng như chúng ta tồn tại bên trong nó. Điều con người hướng tới là đạt được sự hài hòa.
Ngược lại, đối với những người theo tư tưởng hiện sinh, nhận thức về Hư Vô, khoảng trống bản thể có trước khi con người sinh ra và sau khi con người chết đi, vừa làm tăng ý nghĩa của cuộc đời hữu hạn, vừa phủ lên nó một sắc thái tuyệt vọng. Sự tồn tại của chúng ta trở thành một khoảnh khắc ý thức lóe lên ngắn ngủi giữa hai miền vĩnh cửu tối tăm.
Trong môi trường toàn cầu hóa ngày nay, nhiều người dịch chuyển giữa hai cách cảm nhận ấy, cũng như ánh mắt liên tục chuyển đổi giữa hình và nền. Sự tương phản năng động giữa các thế giới quan tạo nên sức sống cho Hình và Hư Vô, đồng thời nhắc chúng ta rằng những ảnh hưởng nghệ thuật trong thời đại này mang tính toàn cầu về văn hóa, được làm giàu lẫn nhau bởi chính những khác biệt và luôn ở trong trạng thái đối thoại, va chạm.
