Bộ GD&ĐT mới đây đã công bố Dự thảo Quy chế tuyển sinh Đại học năm 2026 để lấy ý kiến góp ý. Dự thảo có nhiều điểm mới như:
- Mỗi cơ sở đào tạo được sử dụng tối đa 5 phương thức tuyển sinh; hạn chế điểm cộng chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế.
- Giới hạn điểm thưởng tối đa là 3 điểm theo thang 30; thí sinh chỉ được đăng kí tối đa 10 nguyện vọng vào các chương trình đào tạo của các cơ sở đào tạo thay vì không giới hạn như trước.
- Tổng điểm 3 môn thi tốt nghiệp THPT theo tổ hợp xét tuyển (hoặc sử dụng điểm thi của môn Toán, Ngữ văn và một môn thi khác) phải đạt từ 20 điểm trở lên đối với thí sinh sử dụng kết quả học tập để xét tuyển vào các ngành do các Bộ phối hợp quy định ngưỡng đầu vào.
- Đối với phương thức xét tuyển bằng học bạ, tổ hợp xét tuyển sử dụng điểm trung bình chung kết quả học tập của 6 học kì (lớp 10, lớp 11 và lớp 12) của tối thiểu 3 môn học, trong đó bắt buộc phải có môn Toán hoặc Ngữ văn, với trọng số tính điểm xét không thấp hơn 1/3 tổng điểm theo thang điểm 30. Đáng chú ý, thí sinh sử dụng phương thức này phải có tổng điểm 3 môn thi tốt nghiệp THPT tương ứng tổ hợp xét tuyển (hoặc Toán, Ngữ văn và một môn khác) đạt tối thiểu 16/30 điểm.
Mùa tuyển sinh đại học 2026 được dự báo sẽ có nhiều thay đổi đáng chú ý khi Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) công bố dự thảo Quy chế tuyển sinh mới, trong đó điều chỉnh phương thức xét học bạ. Ảnh minh họa
Theo Báo Công Luận, lý giải về ngưỡng 16 điểm với phương thức xét tuyển bằng học bạ, GS.TS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học (Bộ GD&ĐT) cho rằng, đây là mức mà phần lớn thí sinh có thái độ học tập nghiêm túc đều có thể đạt được, đồng thời bảo đảm chất lượng đầu vào cho các trường.
“Trước hết, chúng ta phải thừa nhận rằng xét tuyển bằng học bạ đã tồn tại hơn 10 năm qua, luôn chiếm khoảng 40% tổng số thí sinh trúng tuyển và chủ yếu dựa trên kết quả học tập lớp 12. Dự thảo mới thực hiện đúng chủ trương đánh giá toàn diện quá trình học tập của học sinh thông qua kết quả học tập đủ 3 năm cấp THPT; đồng thời bổ sung điều kiện phải đạt 16 điểm cho 3 môn trong tổ hợp xét tuyển (hoặc điểm Toán, Văn và một môn thi khác).
Điều này đảm bảo thí sinh không lơ là học tập trong năm lớp 12 vì lượng kiến thức trong năm học này là nền tảng quan trọng kết nối với khối kiến thức cơ bản của các ngành đào tạo bậc đại học. Quy định này không chỉ giúp học sinh học tập nghiêm túc lớp 12, sẵn sàng cho kỳ thi tốt nghiệp mà còn giúp các em có hành trang vững chắc khi trúng tuyển và có khả năng hoàn thành tốt chương trình đào tạo bậc đại học. Mức điểm 16 cũng là mức mà phần lớn thí sinh có thái độ và trách nhiệm sẽ đạt được trong kỳ thi tốt nghiệp, bảo đảm chất lượng cho các trường đại học”, theo GS.TS Nguyễn Tiến Thảo.
Hiện nhiều cơ sở đào tạo lớn đã bỏ phương thức xét tuyển bằng học bạ như: Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Kinh tế quốc dân, Học viện Công nghệ Bưu chính viễn thông, Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội), Trường Đại học Liên ngành và Nghệ thuật (Đại học Quốc gia Hà Nội), Trường Đại học Việt Nhật (Đại học Quốc gia Hà Nội), Trường Đại học Sư phạm (Đại học Thái Nguyên), Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, Trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh…
Quy định cứng mức điểm 16/30 hay linh hoạt theo phổ điểm từng năm?
Dân Trí dẫn lời TS Võ Văn Tuấn, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Văn Lang cho biết, nhận định điểm tích cực của việc siết tiêu chuẩn xét học bạ là nâng cao chất lượng đầu vào, kiểm soát việc sử dụng phương thức xét tuyển bằng học bạ và gắn kết chặt chẽ hơn giữa học bạ với kỳ thi tốt nghiệp THPT.
Việc bắt buộc sử dụng điểm trung bình của 6 học kỳ phản ánh đúng mục tiêu đánh giá học tập là cả quá trình. Tuy nhiên, việc quy định cứng mức điểm 16/30 đối với tổng điểm 3 môn thi tốt nghiệp THPT cần được xem xét, đánh giá kỹ hơn về cơ sở khoa học đo lường.
Ông Tuấn phân tích, tại thời điểm ban hành quy định, kết quả kỳ thi tốt nghiệp THPT của năm tuyển sinh chưa diễn ra, do đó chưa có dữ liệu phổ điểm thực tế để đối sánh. Việc xác định trước một ngưỡng điểm tuyệt đối có thể mang tính giả định chính sách, chưa dựa đầy đủ trên bằng chứng thực nghiệm của chính kỳ thi đó.
Học bạ THPT. Ảnh minh họa
Bên cạnh đó, đề thi tốt nghiệp THPT có sự thay đổi về mức độ khó dễ qua từng năm, dẫn đến phổ điểm và mặt bằng điểm số thay đổi đáng kể. Trong bối cảnh đó, cùng một mức điểm tuyệt đối (16/30) nhưng có thể phản ánh những mức năng lực khác nhau ở các năm khác nhau, làm giảm tính ổn định và công bằng của ngưỡng sàng lọc.
Đồng thời, việc áp dụng một ngưỡng điểm tuyệt đối cố định cho một kỳ thi mang tính chuẩn tương đối sẽ tạo ra mâu thuẫn. Năm đề thi khó thì ngưỡng trở nên quá “siết”, loại bỏ một bộ phận thí sinh có học lực ổn định. Năm đề thi dễ thì ngưỡng trở nên hình thức, không còn nhiều giá trị sàng lọc.
Để vừa giữ được mục tiêu nâng cao chất lượng đầu vào, vừa bảo đảm tính khoa học, công bằng và ổn định qua các năm, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Văn Lang đề xuất xem xét thay thế hoặc điều chỉnh ngưỡng điểm tuyệt đối bằng các cách tiếp cận linh hoạt hơn dựa trên dữ liệu phổ điểm của từng năm. Khi đó ngưỡng điểm tự điều chỉnh theo độ khó đề thi, phản ánh đúng vị trí tương đối của thí sinh trong mặt bằng chung.
TS Nguyễn Quốc Anh, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ TPHCM (HUTECH), cũng có nhận định tương tự. “Việc ấn định mức 16 điểm trong bối cảnh chưa có phổ điểm thi tốt nghiệp là không phù hợp về mặt kỹ thuật”, ông Quốc Anh đánh giá.
Theo ông Quốc Anh, quy định yêu cầu thí sinh xét tuyển bằng học bạ phải đạt tối thiểu 16 điểm thi tốt nghiệp THPT nhằm kiểm soát chuẩn đầu vào là cần thiết về nguyên tắc. Tuy nhiên, mức ngưỡng này hiện cao hơn mặt bằng điểm sàn xét tuyển đại học nhiều năm trước, vốn phổ biến trong khoảng 13-15 điểm.
Điều này có thể khiến nhiều thí sinh có học bạ tốt, quá trình học tập ổn định nhưng kết quả kỳ thi tốt nghiệp không đạt phong độ bị mất cơ hội xét tuyển bằng học bạ, dù năng lực học tập thực tế đáp ứng yêu cầu.
Đáng lưu ý, khi 16 điểm đã được đặt làm ngưỡng sàn điều kiện, thì điểm trúng tuyển theo phương thức xét điểm thi THPT chắc chắn phải cao hơn mức này, tạo ra rào cản kép đối với thí sinh muốn vào đại học: vừa phải vượt ngưỡng tối thiểu, vừa phải cạnh tranh ở mức điểm trúng tuyển cao hơn.
Do đó, ông Quốc Anh cho rằng việc áp dụng ngưỡng linh hoạt theo phổ điểm từng năm sẽ hợp lý hơn, vừa đảm bảo kiểm soát chất lượng, vừa không làm mất đi cơ hội học tập chính đáng của thí sinh.
Ảnh minh họa
Bản chất của học bạ là hình thức đánh giá quá trình
PGS.TS Nguyễn Văn Thụ, Trưởng phòng Đào tạo, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 cho rằng, việc nhiều trường giảm hoặc bỏ xét tuyển học bạ xuất phát từ những băn khoăn có thật về độ tin cậy và tính đồng đều của kết quả đánh giá học sinh giữa các địa phương.
“Thực tế cho thấy, khi quyết định thu hẹp hoặc dừng xét tuyển bằng học bạ, nhiều trường đều đặt vấn đề về sự chưa đồng đều trong chất lượng đánh giá học sinh giữa các vùng miền. Đây là một quan điểm phổ biến và có cơ sở nhất định”, ông Thụ nhìn nhận.
Ở không ít nơi, điểm học bạ được phản ánh là “đẹp” hơn so với năng lực thực tế, dẫn tới sự chênh lệch rõ rệt khi so sánh với kết quả các kỳ thi chuẩn hóa. Điều này khiến các trường đại học, đặc biệt là những cơ sở đào tạo có uy tín, phải cân nhắc lại việc sử dụng học bạ như một kênh tuyển sinh chính.
Tuy nhiên, theo ông Thụ, sẽ là phiến diện nếu chỉ nhìn học bạ dưới góc độ tiêu cực. Bản chất của học bạ là hình thức đánh giá quá trình, phản ánh nỗ lực học tập của học sinh trong suốt ba năm THPT, chứ không chỉ ở một thời điểm.
Vấn đề, theo ông Thụ không nằm ở việc “nên hay không nên” xét tuyển học bạ, mà là cách lựa chọn và kết hợp các phương thức sao cho hợp lý, khoa học và phù hợp với từng nhóm ngành đào tạo.
Việc quy đổi điểm giữa các phương thức, theo ông Thụ, là cần thiết và mang tính khoa học. Song, vấn đề nằm ở chất lượng dữ liệu đầu vào. “Các phương pháp thống kê chỉ cho kết quả chính xác khi dữ liệu được chuẩn hóa”, ông Thụ nhấn mạnh.
Bản chất của học bạ là hình thức đánh giá quá trình, phản ánh nỗ lực học tập của học sinh trong suốt ba năm THPT, chứ không chỉ ở một thời điểm. Ảnh minh họa
Phân tích hơn 700 thí sinh trúng tuyển bằng học bạ năm 2025 của trường, trong đó có khoảng 600 thí sinh tốt nghiệp THPT cùng năm, nhà trường đã đối sánh điểm học bạ với điểm thi tốt nghiệp THPT ở cùng tổ hợp môn. Kết quả cho thấy, điểm học bạ của nhóm thí sinh này cao hơn đáng kể so với điểm thi.
“Điều đó cho thấy, nếu không tính toán kỹ lưỡng, việc quy đổi điểm từ học bạ sang thang điểm thi tốt nghiệp THPT có thể dẫn tới sai lệch trong đánh giá năng lực người học”, ông Thụ nói.
Trong bối cảnh phương thức tuyển sinh liên tục thay đổi, ông Thụ khuyến nghị thí sinh cần giữ tâm thế bình tĩnh, chủ động tìm hiểu thông tin và theo đuổi đam mê thực sự của bản thân.
Khi các trường đại học đồng loạt điều chỉnh phương thức tuyển sinh, tổ chức kỳ thi riêng hoặc thay đổi tổ hợp xét tuyển, việc thích nghi trở thành yêu cầu bắt buộc. Thí sinh cần chủ động hơn bao giờ hết, từ việc lựa chọn kỳ thi phù hợp đến việc xác định tổ hợp môn thế mạnh, để không bị động trước những thay đổi ngày càng nhanh của bức tranh tuyển sinh đại học, Công luận thông tin.
Học sinh cần sự ổn định và lộ trình rõ ràng
Chia sẻ trên Báo Công Thương, em Nguyễn Duy Mạnh, học sinh lớp 12 Trường THPT Yên Hòa (Hà Nội), cho rằng mức 16 điểm không phải một rào cản quá cao. Theo Mạnh, nếu đã lựa chọn xét tuyển bằng học bạ, việc vẫn phải bảo đảm kết quả thi tốt nghiệp ở mức tối thiểu là hợp lý. “Mức 16 điểm buộc chúng em phải học đều và nghiêm túc hơn. Không thể chỉ chú trọng làm đẹp học bạ mà lơ là kỳ thi tốt nghiệp”, Mạnh chia sẻ.
Trong khi đó, em Nguyễn Đỗ Diệu Linh, lớp 12 tại Hưng Yên thừa nhận tâm lý đan xen giữa lo lắng và đồng thuận: “Em hơi lo vì trước đây nghĩ có học bạ tốt là yên tâm phần nào. Nhưng nếu xét kỹ thì điều kiện này cũng công bằng, vì ai cũng phải thi tốt nghiệp. Ít nhất, nó khiến chúng em không được chủ quan”.
Có thể thấy, học sinh không quá lo lắng về việc siết điều kiện, nếu chính sách được thiết kế minh bạch và có lý lẽ thuyết phục. Điều các em quan tâm hơn cả là sự ổn định và lộ trình rõ ràng, để không rơi vào tâm thế bị động hay phải chạy theo thay đổi sát kỳ thi.
Ở góc độ tâm lý, những yêu cầu mới chắc chắn tạo ra áp lực nhất định trong ngắn hạn. Tuy nhiên, về dài hạn, nó có thể góp phần điều chỉnh lại thái độ học tập. Khi biết điểm thi tốt nghiệp vẫn giữ vai trò quyết định, ngay cả với phương thức xét học bạ, học sinh khó có thể tách rời hai giai đoạn học trên lớp và thi cuối cấp. Quá trình và kết quả buộc phải song hành.
