Đề thi Ngữ văn tốt nghiệp THPT gây xôn xao với một câu hỏi nghị luận xã hội mang tính gợi mở: "Làm sao để có những Steve Jobs Việt Nam?". Theo định hướng từ Bộ Giáo dục, cụm từ này không bó hẹp trong ngành công nghệ mà là một ẩn dụ cho tinh thần đổi mới, dám nghĩ khác và bứt phá giới hạn. Steve Jobs không phải người phát minh ra máy tính hay điện thoại thông minh đầu tiên. Điều khiến ông trở thành biểu tượng là khả năng thay đổi cách con người tiếp cận công nghệ và tạo ra một cuộc cách mạng cho cả ngành.
Điện ảnh cũng luôn cần những con người như vậy.
Hollywood có Steven Spielberg, người góp phần định hình khái niệm "blockbuster" hiện đại và thay đổi cách ngành công nghiệp điện ảnh vận hành. Hàn Quốc có Bong Joon Ho, người đưa điện ảnh nước này bước lên sân khấu Oscar bằng bản sắc địa phương. Nhật Bản có Hayao Miyazaki, người biến hoạt hình thành một di sản văn hóa toàn cầu.
Vậy điện ảnh Việt Nam thì sao?
Điện ảnh Việt luôn đi tìm "người hùng"
Nhìn vào bảng tổng sắp phòng vé, chúng ta dễ có cảm giác điện ảnh Việt đang bước vào giai đoạn hoàng kim. Theo số liệu từ Box Office Vietnam, doanh thu phim Việt trong nước năm 2025 đã đạt cột mốc kỷ lục khoảng 3.650 tỷ đồng, gần gấp đôi so với năm 2024. Quý 1 năm 2026 bùng nổ lịch sử với tổng doanh thu phim Việt vượt mốc 1.100 tỷ đồng. Tính đến tháng 5/2026, thị trường ghi nhận tới 8 bộ phim Việt cán mốc trăm tỷ.
Khi một bộ phim thắng lớn, lập tức cả thị trường rúng động. Nhưng đi kèm với niềm vui doanh thu là căn bệnh kinh niên: Thói quen thần tượng hóa cá nhân và nhân bản công thức ngắn hạn.
Điện ảnh Việt nhiều năm qua rất dễ bị dẫn dắt bởi những hiện tượng. Mỗi khi một bộ phim thắng lớn, cả thị trường gần như lập tức xuất hiện hàng loạt dự án đi theo công thức tương tự.
Phim gia đình tạo doanh thu cao, phim gia đình trở thành xu hướng. Phim kinh dị thắng phòng vé, hàng loạt dự án kinh dị được công bố. Một bộ phim remake thành công, remake lại trở thành lựa chọn an toàn của nhiều nhà đầu tư.
Điều đó không sai. Nhưng nếu sự phát triển chỉ dừng ở việc nhân bản một mô hình đã có, điện ảnh rất dễ rơi vào vòng lặp của những "trend" ngắn hạn thay vì tạo ra những bước tiến dài hạn.
Bên cạnh đó là xu hướng đặt rất nhiều kỳ vọng lên từng cá nhân hơn là xây một nền tảng để nhiều người cùng phát triển. Khi Victor Vũ thành công, người ta kỳ vọng ông sẽ nâng tầm điện ảnh Việt. Khi Lý Hải liên tiếp có phim doanh thu cao, nhiều người gọi anh là "bảo chứng phòng vé". Khi Trấn Thành lập kỷ lục doanh thu, thị trường lập tức xem đó như công thức mới cho điện ảnh thương mại.
Chúng ta đang vận hành thị trường bằng tư duy chờ đợi "người hùng", song một vài đôi vai gánh vác cả một ngành công nghiệp là một sự cầu may đầy rủi ro. Ta đã quen ăn mừng những cú nổ ngắn hạn hơn là ngồi lại cùng nhau để xây dựng một nền tảng bền vững để tất cả cùng phát triển.
"Steve Jobs điện ảnh" không tự nhiên rơi từ trên trời xuống
Sự thật là, không có một thiên tài điện ảnh nào tự sinh tự diệt mà làm nên lịch sử. Steven Spielberg là người đứng sau các bom tấn như Schindler's List, Hàm Cá Mập, Catch Me If You Can, War of the Worlds... Ông vĩ đại, nhưng ông trưởng thành cùng Hollywood - nơi có hệ thống studio chuyên nghiệp, đội ngũ biên kịch đông đảo, producer giàu kinh nghiệm, trường đào tạo điện ảnh, công nghệ sản xuất hiện đại, nguồn vốn dồi dào và mạng lưới phát hành toàn cầu.
Gần hơn, Bong Joon Ho làm nên lịch sử tại Oscar với Parasite, nhưng ông không đơn độc. Ông là trái ngọt của hơn hai thập kỷ điện ảnh Hàn Quốc kiên trì cải cách, được chống lưng bởi các tập đoàn kinh tế lớn (Chaebol), một quỹ điện ảnh quốc gia (KOFIC) hoạt động minh triết và một chiến lược văn hóa tầm cỡ quốc gia.
Điều đó cho thấy sự thật là một thiên tài có thể tạo nên một bộ phim xuất sắc. Nhưng muốn tạo ra nhiều thế hệ tài năng, phía sau luôn phải là một nền công nghiệp đủ mạnh để nuôi dưỡng họ.
Tài năng cá nhân giống như hạt giống, nhưng nếu gieo nó xuống một mảnh đất khô cằn, thiếu dưỡng chất và đầy rẫy áp lực ngắn hạn, hạt giống đó sẽ chết yểu trước khi kịp nảy mầm. Không thể tạo nên một nền điện ảnh lớn chỉ bằng một vài cá nhân xuất chúng, chúng ta cần một nền công nghiệp đủ mạnh để định hình và nuôi dưỡng họ.
Điện ảnh Việt đang thiếu gì?
Nhìn vào thị trường hiện tại, điện ảnh Việt rõ ràng không thiếu người tài. Sự xuất hiện của các bộ phim trăm tỷ thuộc dòng phim tâm lý hay kinh dị, giật gân gần đây chứng minh khán giả Việt vô cùng chịu chi và thị trường nội địa cũng rất màu mỡ.
Tuy nhiên, doanh thu tăng chưa đồng nghĩa với một nền điện ảnh lớn. Phía sau bề mặt sôi động, nhiều mắt xích của nền công nghiệp vẫn còn khá mỏng.
Điện ảnh Việt vẫn thiếu một hệ thống phát triển kịch bản bài bản. Thiếu những writers' room hoạt động chuyên nghiệp. Thiếu producer đúng nghĩa có thể phát triển dự án từ ý tưởng đến thị trường. Thiếu chiến lược xây dựng IP (Intellectual Property - Sở hữu trí tuệ) dài hơi. Thiếu các quỹ hỗ trợ dự án và cơ chế để phim độc lập, phim thể nghiệm tồn tại.
Nói cách khác, chúng ta đang mạnh ở khâu sản xuất nhưng vẫn yếu ở khâu phát triển. Có thể quay đẹp hơn, dựng tốt hơn hay truyền thông rầm rộ hơn, nhưng điều đó chưa đủ để tạo nên một nền điện ảnh trưởng thành.
Một nền điện ảnh lớn không được đo bằng vài bộ phim trăm tỷ. Nó được đo bằng khả năng liên tục tạo ra những biên kịch mới, những đạo diễn mới, những nhà sản xuất mới và những cách kể chuyện mới, hay bằng một đạo diễn trẻ vẫn có cơ hội làm bộ phim thứ hai sau khi tác phẩm đầu tiên thất bại.
Khi những điều đó chưa trở thành bình thường, những kỷ lục phòng vé vẫn chỉ là những điểm sáng riêng lẻ hơn là dấu hiệu của một nền công nghiệp thực sự trưởng thành.
Bài toán tạo ra "Steve Jobs Việt Nam" trong điện ảnh
Câu hỏi trong đề thi Ngữ văn không chỉ dành cho lĩnh vực công nghệ. Với điện ảnh, câu hỏi ấy cũng đáng để suy ngẫm: Bao giờ Việt Nam mới có một Steven Spielberg hay Bong Joon Ho của riêng mình?
Có lẽ câu trả lời không nằm ở việc chờ đợi một thiên tài xuất hiện. Muốn có một "Steve Jobs" hay một "Spielberg" phiên bản Việt, chúng ta buộc phải thôi tư duy theo kiểu "chờ sung rụng".
Điện ảnh Việt có được "thoát xác" hay không nằm ở việc xây dựng một môi trường mà ở đó người trẻ được học nghề bài bản, biên kịch được đầu tư thời gian phát triển kịch bản, đạo diễn được phép trưởng thành, nhà sản xuất dám đặt cược vào ý tưởng mới. Môi trường đó phải đủ chuyên nghiệp để buộc người giỏi phải giỏi hơn, nhưng cũng phải đủ bao dung để cho phép những người làm phim độc lập, phim thể nghiệm có đường sống, có quyền được thử, được sai và được thất bại trước khi chạm tới thành công.
Khi nào chúng ta xây dựng được một bệ phóng chuyên nghiệp và bền vững như thế, điện ảnh Việt mới có cơ hội sản sinh ra những con người đủ sức thay đổi cuộc chơi. Lúc đó, tự khắc những "Steve Jobs", những "Spielberg" mang dòng máu Việt, bản sắc Việt sẽ tự khắc xuất hiện mà không cần chúng ta phải mỏi mắt đi tìm trong sự may rủi.
Mộng Zu
