Một chỉ huy cấp cao thuộc Lực lượng Vệ binh Cách mạng Iran hôm thứ Hai 2/3 cho biết eo biển Hormuz đã bị đóng cửa và cảnh báo rằng bất kỳ tàu thuyền nào cố gắng đi qua tuyến đường thủy này sẽ bị nhắm mục tiêu, truyền thông Iran đưa tin.
Nằm giữa Oman và Iran, eo biển này đóng vai trò là huyết mạch quan trọng cho hoạt động thương mại dầu mỏ toàn cầu. Theo công ty tư vấn năng lượng Kpler, khoảng 13 triệu thùng dầu mỗi ngày đã đi qua eo biển này vào năm 2025, chiếm khoảng 31% tổng lượng dầu thô vận chuyển bằng đường biển.
Việc đóng cửa eo biển kéo dài có thể dẫn đến giá dầu tăng mạnh hơn nữa , với một số nhà phân tích dự đoán giá dầu sẽ vượt mốc 100 đô la một thùng. Giá dầu Brent chuẩn toàn cầu hiện nay làGiá dầu tăng 2,6% lên khoảng 80 đô la một thùng — cao hơn gần 10% kể từ khi xung đột nổ ra.
Theo Kpler, khoảng 20% lượng khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG) xuất khẩu toàn cầu từ vùng Vịnh Ba Tư cũng đang gặp rủi ro, chủ yếu là lượng LNG có nguồn gốc từ Qatar và được vận chuyển qua eo biển Hormuz. Qatar, một trong những nhà cung cấp LNG lớn nhất thế giới, đã tạm ngừng sản xuất vào thứ Hai sau khi máy bay không người lái của Iran tấn công các cơ sở của nước này tại Khu công nghiệp Ras Laffan và Khu công nghiệp Mesaieed.
“Tại châu Á, Thái Lan, Ấn Độ, Hàn Quốc và Philippines là những quốc gia dễ bị tổn thương nhất trước giá dầu tăng cao do phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu, trong khi Malaysia sẽ là nước hưởng lợi tương đối vì là nước xuất khẩu năng lượng”, Nomura viết trong một bản báo cáo hôm thứ Hai.
Dưới đây là những tác động mà các doanh nghiệp phụ thuộc vào năng lượng vùng Vịnh và vận chuyển hàng hóa qua eo biển Hormuz có thể phải gánh chịu.
Căng thẳng tức thời ở Nam Á
Các nhà phân tích cho biết Nam Á sẽ phải đối mặt với sự gián đoạn nghiêm trọng nhất, đặc biệt là về nguồn cung khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG).
Theo dữ liệu của Kpler, Qatar và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất chiếm 99% lượng khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG) nhập khẩu của Pakistan, 72% của Bangladesh và 53% của Ấn Độ.
Với nguồn dự trữ và khả năng mua sắm hạn chế, Pakistan và Bangladesh đặc biệt dễ bị tổn thương. Thứ nhất, Bangladesh hiện đang phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt khí đốt nghiêm trọng. Theo Viện Kinh tế Năng lượng và Phân tích Tài chính , quốc gia này đang thiếu hụt hơn 1.300 triệu feet khối mỗi ngày.
“Pakistan và Bangladesh có nguồn dự trữ và khả năng mua sắm hạn chế, điều này có nghĩa là sự gián đoạn có thể dẫn đến việc nhu cầu điện năng giảm nhanh chóng thay vì hình thành các cuộc đấu thầu giao ngay quyết liệt”, Go Katayama, nhà phân tích chính tại Kpler, cho biết.
Ấn Độ đối mặt với rủi ro tổng hợp lớn nhất trong khu vực. Ông cho biết: “Hơn một nửa lượng khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG) nhập khẩu của nước này có liên quan đến vùng Vịnh, và một phần đáng kể được định giá theo chỉ số Brent, vì vậy sự tăng vọt giá dầu thô do eo biển Hormuz gây ra sẽ đồng thời đẩy giá dầu nhập khẩu và giá hợp đồng LNG lên cao. Điều đó tạo ra cú sốc kép cả về vật chất và tài chính”.
Tương tự, theo UBP, khoảng 60% lượng dầu nhập khẩu của Ấn Độ đến từ Trung Đông. Do đó, việc phong tỏa kéo dài sẽ làm gia tăng cả chi phí nhập khẩu năng lượng và áp lực lên cán cân vãng lai.
Thách thức với Trung Quốc
Việc eo biển Hormuz đóng cửa sẽ là một thách thức đối với an ninh năng lượng của Trung Quốc, nhưng nguồn dự trữ và các nguồn cung thay thế sẽ giúp giảm thiểu tác động tiêu cực.
Theo Kpler, quốc gia này là nước nhập khẩu dầu thô lớn nhất thế giới và mua hơn 80% lượng dầu của Iran.
Theo ước tính của UBP, khoảng 30% lượng khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG) nhập khẩu của nước này đến từ Qatar và UAE, và khoảng 40% lượng dầu nhập khẩu đi qua eo biển Hormuz.
“Trung Quốc đang đối mặt với nhiều thách thức về vật chất nhưng lại linh hoạt hơn”, ông Katayama của Kpler nhận định.
Theo Kpler, tính đến cuối tháng 2, lượng dự trữ LNG của Trung Quốc đạt 7,6 triệu tấn, đủ để đáp ứng nhu cầu ngắn hạn. Tuy nhiên, nếu sự cố gián đoạn kéo dài, Trung Quốc sẽ phải cạnh tranh để giành nguồn cung từ Đại Tây Dương, dẫn đến tình trạng khan hiếm ở lưu vực Thái Bình Dương, ông Katayama nói thêm. Trong trường hợp đó, tình hình có thể làm gia tăng cạnh tranh giá cả trên khắp châu Á ngay cả khi Bắc Kinh tránh được tình trạng thiếu hụt hoàn toàn.
Theo nhận định của Rystad Energy hôm Chủ nhật, Ả Rập Xê Út đã tăng cường vận chuyển dầu thô trong những tuần gần đây, và trữ lượng dầu mỏ chiến lược của các quốc gia tiêu thụ lớn như Trung Quốc có thể tạm thời hỗ trợ thị trường.
UBP cho biết, mặc dù Trung Quốc là nước nhập khẩu năng lượng ròng quan trọng trong khu vực, nhưng nước này không nhất thiết là quốc gia dễ bị tổn thương nhất trước những cú sốc nguồn cung tiềm tàng.
Nhật Bản và Hàn Quốc
Theo UBP, Trung Đông cung cấp 75% lượng dầu nhập khẩu của Nhật Bản và khoảng 70% của Hàn Quốc.
Đối với khí hóa lỏng (LNG), mức độ phụ thuộc vào vùng Vịnh của họ thấp hơn so với Nam Á. Theo ước tính của Kpler, Hàn Quốc nhập khẩu 14% lượng LNG từ Qatar và UAE, trong khi Nhật Bản nhập khẩu 6%.
Ngay cả khi không xảy ra tình trạng thiếu hụt rõ rệt, tác động về giá cả cũng có thể rất nghiêm trọng. “Các nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu năng lượng như Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan dễ bị ảnh hưởng hơn bởi các cú sốc nguồn cung”, Shier Lee Lim, chiến lược gia hàng đầu về kinh tế vĩ mô và ngoại hối khu vực châu Á Thái Bình Dương tại nền tảng thanh toán Convera, cho biết.
Lượng dự trữ cũng có hạn. Theo Kpler, Hàn Quốc nắm giữ khoảng 3,5 triệu tấn LNG và Nhật Bản khoảng 4,4 triệu tấn, đủ cho khoảng hai đến bốn tuần nhu cầu ổn định.
Nhập khẩu dầu ròng của Hàn Quốc chiếm 2,7% GDP, và Nomura đánh giá nước này nằm trong số những quốc gia dễ bị tổn thương nhất về cán cân vãng lai.
Đông Nam Á
Theo các chuyên gia trong ngành, ở phần lớn khu vực Đông Nam Á, tác động đầu tiên là lạm phát giá cả chứ không phải tình trạng thiếu hụt hàng hóa ngay lập tức.
Ông Katayama của Kpler cho biết, những người mua LNG phụ thuộc vào thị trường giao ngay sẽ phải đối mặt với chi phí thay thế tăng mạnh khi châu Á cạnh tranh với châu Âu trong việc giành nguồn cung LNG từ Đại Tây Dương.
Thái Lan đặc biệt là quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ giá dầu trong khuôn khổ phân tích của Nomura bởi tác động từ bên ngoài rất lớn và tức thời: nước này có lượng nhập khẩu dầu ròng lớn nhất châu Á, chiếm 4,7% GDP, và mỗi lần giá dầu tăng 10% sẽ làm trầm trọng thêm thâm hụt tài khoản vãng lai khoảng 0,5 điểm phần trăm GDP của quốc gia.
An An
Theo CNBC
