Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 sẽ diễn ra vào ngày 15/3 tới đây. Đây là sự kiện chính trị quan trọng, nơi cử tri cả nước thực hiện quyền lựa chọn những người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của mình.
Tuy nhiên, nhiều người vẫn thắc mắc: nếu đủ điều kiện nhưng không đi bầu cử thì có bị xử phạt hay không? Pháp luật hiện hành quy định thế nào về vấn đề này?
Người dân không đi bầu cử có bị phạt?
Theo Điều 27 Hiến pháp năm 2013, công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và từ đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Việc thực hiện các quyền này do luật định.
Quy định này tiếp tục được khẳng định tại Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, theo đó:
Tính đến ngày bầu cử được công bố, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp theo quy định của Luật này.
Như vậy, pháp luật xác định bầu cử là quyền của công dân, không phải là nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện.
Tuy nhiên, Điều 15 Hiến pháp 2013 cũng nêu rõ, quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân. Điều này thể hiện trách nhiệm của mỗi công dân trong việc tham gia các hoạt động chính trị - xã hội quan trọng của đất nước.
Trên thực tế, hiện nay pháp luật chưa quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với trường hợp đủ điều kiện nhưng không tham gia bầu cử. Nhà nước chủ yếu thực hiện các biện pháp tuyên truyền, vận động và tạo điều kiện thuận lợi để cử tri tham gia bỏ phiếu.
Việc đi bầu cử vì vậy không chỉ là quyền mà còn là trách nhiệm chính trị của mỗi công dân, góp phần lựa chọn những người có đủ năng lực, phẩm chất đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân.
Một người có thể bỏ phiếu cho cả nhà được không?
Theo điều 69 luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND, mỗi cử tri có quyền bỏ một phiếu bầu đại biểu Quốc hội và bỏ một phiếu bầu đại biểu HĐND tương ứng với mỗi cấp HĐND.
Cử tri phải tự mình đi bầu cử, không được nhờ người khác bầu cử thay, khi bầu cử phải xuất trình thẻ cử tri.
Cử tri không thể tự viết được phiếu bầu thì nhờ người khác viết hộ, nhưng phải tự mình bỏ phiếu; người viết hộ phải bảo đảm bí mật phiếu bầu của cử tri. Trường hợp cử tri vì khuyết tật không tự bỏ phiếu được thì nhờ người khác bỏ phiếu vào hòm phiếu.
Trong trường hợp cử tri ốm đau, già yếu, khuyết tật không thể đến phòng bỏ phiếu được thì tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến chỗ ở, chỗ điều trị của cử tri để cử tri nhận phiếu bầu và thực hiện việc bầu cử.
Đối với cử tri là người đang bị tạm giam, người đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc mà tại các cơ sở này không tổ chức khu vực bỏ phiếu riêng, hoặc cử tri là người đang bị tạm giữ tại nhà tạm giữ thì tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến để cử tri bầu cử.
Khi cử tri viết phiếu bầu, không ai được xem, kể cả thành viên tổ bầu cử.
Nếu viết sai, cử tri có quyền đổi phiếu bầu khác.
Khi cử tri bỏ phiếu xong, tổ bầu cử có trách nhiệm đóng dấu "Đã bỏ phiếu" vào thẻ cử tri.
Mọi người phải tuân theo nội quy phòng bỏ phiếu.
Hành vi vi phạm nào về bầu cử sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự?
Tại Điều 95 của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân đã quy định rõ, người nào dùng thủ đoạn lừa gạt, mua chuộc hoặc cưỡng ép làm trở ngại việc bầu cử, ứng cử của công dân; vi phạm các quy định về vận động bầu cử; người có trách nhiệm trong công tác bầu cử mà giả mạo giấy tờ, gian lận phiếu bầu hoặc dùng thủ đoạn khác để làm sai lệch kết quả bầu cử thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Căn cứ vào quy định của Luật này, Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14, Luật số 59/2024/QH15 và Luật số 86/2025/QH15) đã quy định cụ thể 2 tội liên quan đến bầu cử.
Thứ nhất, tội xâm phạm quyền của công dân về bầu cử, ứng cử hoặc biểu quyết khi Nhà nước trưng cầu ý dân (Điều 160).
Theo đó, người nào lừa gạt, mua chuộc, cưỡng ép hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở công dân thực hiện quyền bầu cử, quyền ứng cử hoặc quyền biểu quyết khi Nhà nước trưng cầu ý dân thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 1 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm.
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp như có tổ chức, hay lợi dụng chức vụ, quyền hạn; phạm tội dẫn đến hoãn ngày bầu cử, bầu cử lại hoặc hoãn việc trưng cầu ý dân thì sẽ bị phạt tù từ 1 đến 2 năm.
Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 1 đến 5 năm.
Thứ hai, đối với tội làm sai lệch kết quả bầu cử, kết quả trưng cầu ý dân (Điều 161). Người nào có trách nhiệm trong việc tổ chức, giám sát việc bầu cử, tổ chức trưng cầu ý dân mà giả tạo giấy tờ, gian lận phiếu hoặc dùng thủ đoạn khác để làm sai lệch kết quả bầu cử, kết quả trưng cầu ý dân thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm.
Còn phạm tội do có tổ chức; hay phạm tội dẫn đến phải tổ chức lại việc bầu cử hoặc trưng cầu ý dân thì bị phạt tù từ 1 đến 3 năm. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 1 đến 5 năm.
Cũng theo Hội đồng Bầu cử Quốc gia, người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân mà có hành vi vi phạm pháp luật về bầu cử (như kê khai hồ sơ ứng cử không trung thực, gian dối, giả mạo thông tin, vi phạm các quy định về vận động bầu cử…) thì có thể bị xóa tên trong danh sách chính thức những người ứng cử.
Trong trường hợp nếu đã được bầu thì cũng không được công nhận tư cách đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Phạm Trang
