Câu nói ấy luôn trở về trong tư duy của tôi mỗi khi chứng kiến những nhịp đập sinh động của công cuộc chuyển đổi số nước nhà. Đó không chỉ là không gian trang trọng, hiện đại của những diễn đàn công nghệ quốc tế, những bản quy hoạch chiến lược tầm thế kỷ hay các lễ ký kết hợp tác quy mô hàng nghìn tỷ đồng giữa các tập đoàn hàng đầu; mà đó còn là hình ảnh một tiểu thương chợ quê lần đầu đưa chiếc điện thoại thông minh có hình nền là mã QR nhận tiền bán một mớ rau; một hộ kinh doanh nhỏ tại ngoại thành Hà Nội mở tài khoản số chỉ trong vài phút; hay một cán bộ ngân hàng kiên nhẫn bám địa bàn, cầm tay chỉ việc hướng dẫn người dân trải nghiệm tài chính số. Những chuyển động lặng lẽ nhưng mãnh liệt ấy đang phản chiếu một cách chân thực nhất hành trình đưa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng vào thực tiễn – hành trình chuẩn bị nền tảng và bệ phóng để đất nước vươn mình trong kỷ nguyên mới.
Tôi vẫn nhớ như in không khí trang trọng trong buổi chiều ngày 21/07/2026 tại Trụ sở chính BIDV, khi chứng kiến Lễ ký kết Thỏa thuận hợp tác toàn diện giai đoạn 2026 - 2030 giữa Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) và Tổng công ty Công nghệ - Viễn thông Toàn cầu (GTEL). rong hội trường hôm ấy, những khái niệm như trí tuệ nhân tạo (AI), trung tâm dữ liệu siêu lớn (Data Center), dữ liệu lớn (Big Data), Open API, định danh xác thực điện tử (VNeID) hay an ninh mạng quốc gia được nhắc đến không phải như những thuật ngữ kỹ thuật đơn thuần, mà được định vị là những trụ cột hạ tầng chiến lược mới của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Là một đảng viên, cán bộ công tác tại Ban Quản lý Khách hàng Doanh nghiệp BIDV, tôi tự hào nhận thức sâu sắc rằng: phía sau cái bắt tay mang tính bước ngoặt giữa định chế tài chính có tổng tài sản lớn nhất Việt Nam và doanh nghiệp công nghệ - viễn thông nòng cốt của Bộ Công an, chính là sự cộng hưởng sức mạnh vì một mục tiêu lớn hơn. Đó là hiện thực hóa chủ trương của Đảng về kiến tạo hạ tầng số quốc gia, bảo đảm tự chủ chiến lược và an ninh tài chính trong nền kinh tế số.

Chỉ ít ngày sau sự kiện tầm cỡ ấy, qua báo cáo theo dõi "Chiến dịch 100 ngày cao điểm chuyển đổi số cùng thủ đô Hà Nội" từ ngày 17/7/2026 đến ngày 25/10/2026 với những hình ảnh triển khai của các Chi nhánh BIDV, tôi lại thấy một lát cắt rất khác của công cuộc hiện đại hóa. Tại chợ Linh Lang, phường Giảng Võ, cán bộ ngân hàng trực tiếp hỗ trợ các hộ kinh doanh tiếp cận thanh toán không dùng tiền mặt, tài khoản số và những tiện ích tài chính số gắn với hoạt động buôn bán hằng ngày. Ở xã Chương Dương, nơi Chiến dịch 100 ngày cao điểm chuyển đổi số được triển khai vô cùng sôi nổi từ ngày 22/7 đến 28/10, các Chi nhánh BIDV tiếp tục đồng hành cùng chính quyền xã không quản sớm chiều, nắng mưa, bám trụ tại các khu vực có hoạt động sản xuất, kinh doanh và làng nghề để tư vấn người dân, doanh nghiệp "Chuyển đổi số".
Chiến dịch không dừng lại ở khu vực trung tâm, mà tìm về những vùng quê, nơi độ phủ của chuyển đổi số còn mỏng, cũng là nơi mỗi bước tiến đều mang ý nghĩa lớn nhất. Ở đó, sắc áo BIDV lại cần mẫn và nhiệt thành trên từng con đường làng, từng gian hàng nhỏ, mang những giải pháp số đến với bà con, không chỉ để việc kinh doanh hiệu quả hơn, mà còn để cuộc sống thường ngày trở nên thuận tiện hơn.


Những việc làm ở nơi cơ sở ấy với cùng một mục tiêu đưa công nghệ và dịch vụ tài chính số đến gần hơn với người dân, hộ kinh doanh và doanh nghiệp, để chuyển đổi số trở thành một trải nghiệm cụ thể chứ không chỉ là khái niệm trên văn bản.
Hai bức tranh – một ở tầng chiến lược vĩ mô, một ở nhịp sống kinh tế vi mô – thoạt nhìn có vẻ xa cách, nhưng thực chất lại là hai mặt thống nhất của một tiến trình. Hạ tầng chuyển đổi số quốc gia không chỉ được xây đắp từ những trung tâm dữ liệu quy mô lớn hay các nền tảng công nghệ lõi, mà còn được hoàn thiện từ những giao dịch số đầu tiên của người dân, từ sự đổi mới phương thức quản trị của doanh nghiệp và hộ kinh doanh, từ những chợ dân sinh, tuyến phố thương mại đến các làng nghề đang từng bước bước vào không gian kinh tế số. Chính ở những địa bàn như chợ Linh Lang hay xã Chương Dương, chủ trương lớn được chuyển hóa thành những thay đổi mà mỗi cá nhân có thể nhìn thấy, đo đếm và cảm nhận rõ ràng trong đời sống.
Tại BIDV, chúng tôi cũng đang nỗ lực phát huy vai trò ngành Ngân hàng trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển hạ tầng chiến lược theo định hướng Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, để những chuyển hóa, những thay đổi cũng được người dân, doanh nghiệp và chính quyền có thể nhìn, đo và cảm nhận thật rõ ràng.
Bước chuyển mạnh mẽ trong tư duy của Đảng: Từ hạ tầng vật chất đến hạ tầng số chiến lược
Trong lịch sử phát triển kinh tế toàn cầu và quá trình đổi mới của đất nước ta, nói đến "hạ tầng chiến lược", tư duy truyền thống thường hướng về kết cấu hạ tầng giao thông vận tải, cảng biển, sân bay, hay mạng lưới năng lượng quốc gia. Những công trình "bê tông cốt thép" ấy đã và đang làm tốt sứ mệnh kết nối không gian địa lý, mở đường cho hàng hóa lưu thông. Tuy nhiên, bước vào kỷ nguyên của Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trước những biến chuyển sâu sắc, khó lường của thời cuộc, Đại hội XIV của Đảng đã tiếp tục làm mới và nâng tầm tư duy lý luận về công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Từ Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 17/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã chỉ rõ: lấy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính. Đến Văn kiện Đại hội XIV, Đảng ta đã nhấn mạnh quyết tâm: "Tập trung ưu tiên xây dựng đồng bộ thể chế phát triển... thúc đẩy đổi mới sáng tạo; hoàn thiện đồng bộ và đột phá mạnh mẽ trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là hạ tầng công nghệ phục vụ quản trị và kiến tạo phát triển, hạ tầng số, chuyển đổi xanh".
Sự phát triển tư duy ấy khẳng định một chân lý mới: Công nghiệp hóa trong thế kỷ XXI không chỉ đo đếm bằng sản lượng thép hay chiều dài đường cao tốc, mà phải được định hình bằng năng lực làm chủ dữ liệu, làm chủ công nghệ lõi và mức độ hoàn thiện của hạ tầng số chiến lược. Hạ tầng số – bao gồm mạng viễn thông thế hệ mới, trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây, các cơ sở dữ liệu quốc gia dùng chung, hệ thống định danh - xác thực điện tử và hệ sinh thái tài chính số – chính là những "tuyến cao tốc vô hình" quyết định tốc độ lưu thông của dòng chảy vốn, tri thức và giá trị gia tăng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện đại.
Đặc biệt, ngày 06/01/2026, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước, trong đó tiếp tục khẳng định và làm sâu sắc hơn định hướng: Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là công cụ then chốt để Đảng và Nhà nước điều tiết nền kinh tế, dẫn dắt đổi mới sáng tạo và đầu tư vào các hạ tầng chiến lược quan trọng của quốc gia.
Trong bức tranh tổng thể đó, hệ thống ngân hàng thương mại nhà nước – với vị thế là "huyết mạch" của nền kinh tế – đang đứng trước một sứ mệnh lịch sử chưa từng có. Chúng ta không chỉ thực hiện chức năng truyền thống là huy động và cung ứng vốn tín dụng cho sản xuất kinh doanh, mà phải chuyển mình trở thành một cấu phần cốt lõi, một "động cơ kết nối" của hạ tầng số quốc gia. Mỗi giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt, mỗi quy trình thẩm định tín dụng bằng AI, mỗi cổng kết nối dữ liệu mở (Open API) hay giải pháp tài chính nhúng (Embedded Finance) của ngân hàng chính là những "điểm nút" đan dệt nên mạng lưới vận hành thông suốt của toàn bộ nền kinh tế số.
Cộng hưởng nguồn lực: định vị vai trò dẫn dắt của ngân hàng trong kiến tạo hạ tầng chiến lược
Làm thế nào để các định hướng lớn tại Nghị quyết 29-NQ/TW, Nghị quyết 79-NQ/TW và Đại hội XIV của Đảng không nằm trên trang giấy mà biến thành sức mạnh vật chất? Câu trả lời nằm ở năng lực cụ thể hóa và sự chủ động dẫn dắt của các doanh nghiệp nhà nước đầu tàu.
Là ngân hàng thương mại cổ phần có vốn nhà nước chi phối, nắm giữ quy mô tổng tài sản đạt 3,39 triệu tỷ đồng, phục vụ hơn 26 triệu khách hàng cá nhân và 500.000 khách hàng doanh nghiệp, BIDV luôn ý thức sâu sắc vai trò "đầu tàu" của mình. Tại Nghị quyết số 55-NQ/ĐU ngày 18/05/2026 về việc phê duyệt Chiến lược phát triển hoạt động Khối Khách hàng doanh nghiệp giai đoạn 2026 - 2030, Ban Thường vụ Đảng ủy BIDV đã đặt ra mục tiêu đầy tham vọng: Duy trì vị thế dẫn đầu trong phân khúc SME, Top 3 ngân hàng đứng đầu phân khúc FDI; đi đầu trong ứng dụng công nghệ, dữ liệu, AI và đứng đầu thị trường về phát triển xanh, bền vững (ESG).
Sự kiện ký kết Thỏa thuận hợp tác toàn diện giai đoạn 2026 - 2030 giữa BIDV và GTEL mới đây là minh chứng sắc nét nhất cho vai trò chủ động dẫn dắt của BIDV. Nếu như GTEL là hạt nhân của Tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia, giữ vai trò tiên phong trong Đề án 06 của Chính phủ về phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử (VNeID) thì BIDV chính là định chế tài chính đi đầu trong công cuộc chuyển đổi số quốc gia.
Sự hợp tác giữa BIDV và GTEL không đơn thuần là một bản hợp đồng thương mại giữa hai doanh nghiệp, mà là sự hợp lực mang tính chiến lược của khu vực kinh tế nhà nước: Kết nối nguồn lực tài chính mạnh mẽ với hạ tầng viễn thông, an ninh mạng lõi để xây dựng nền tảng tự chủ số quốc gia.
Thông qua hợp tác này, dòng vốn từ BIDV cam kết đồng hành, thu xếp nguồn vốn cho các dự án trọng điểm phát triển hạ tầng Trung tâm dữ liệu (Data Center), mạng truyền số liệu chuyên dùng và các nền tảng công nghệ quốc gia của GTEL. Ngược lại, việc ứng dụng các nền tảng công nghệ lõi từ GTEL như xác thực định danh điện tử VNeID, eKYC, định danh và chia sẻ dữ liệu số sẽ tạo nên "tấm lá chắn" bảo đảm an toàn, an ninh mạng tuyệt đối cho hệ thống tài chính - ngân hàng.
Là cán bộ trực tiếp tham gia công tác quản lý khách hàng doanh nghiệp, tôi nhận thấy rõ bước chuyển mình sâu sắc trong tư duy thiết kế giải pháp tài chính tại BIDV. Chúng tôi không chỉ chào bán một khoản vay hay một tài khoản thanh toán đơn lẻ, mà đang cùng các đối tác công nghệ kiến tạo nên một Hệ sinh thái Tài chính nhúng (Embedded Finance) và Ngân hàng giao dịch (Transaction Banking) hiện đại. Tại đó, các nền tảng như đấu giá tài sản trực tuyến, tài trợ chuỗi cung ứng số hóa (Digital Supply Chain Finance), thuế và hải quan điện tử… đều được tích hợp liền mạch. Dòng vốn số của ngân hàng khi ấy không chỉ luân chuyển giá trị tiền tệ, mà mang theo cả tri thức quản trị, tính minh bạch và tiêu chuẩn an ninh cao nhất đến từng doanh nghiệp.
Từ thực tiễn cơ sở: đưa nghị quyết vào cuộc sống bằng các giải pháp tài chính toàn diện, bao trùm
Một cơ chế tốt, một chiến lược đúng chỉ thực sự có ý nghĩa khi người dân và doanh nghiệp cảm nhận được giá trị trong đời sống hằng ngày. Bởi vậy, nếu câu chuyện hợp tác BIDV - GTEL cho thấy tầm nhìn ở lớp hạ tầng số chiến lược, thì những chương trình chuyển đổi số tại địa bàn Hà Nội lại cho thấy một chiều khác không kém phần quan trọng: đưa công nghệ, tài chính số và phương thức quản trị mới đến tận chợ dân sinh, hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ, làng nghề và chính quyền cơ sở. Chính ở tầng nấc này, nghị quyết được kiểm chứng bằng mức độ thay đổi thật trong cách người dân giao dịch, cách hộ kinh doanh quản lý doanh thu và cách các cơ sở sản xuất truyền thống tìm đường vào thị trường số.
Trong " Chiến dịch 100 ngày cao điểm chuyển đổi số cùng Thủ đô Hà Nội", các chi nhánh BIDV đã đồng hành, ra quân, trực tiếp bám địa bàn, phối hợp triển khai các giải pháp tài chính số tới các nhóm khách hàng ở cơ sở. Tại chợ Linh Lang, phường Giảng Võ, chuyển đổi số bắt đầu từ những nhu cầu rất cụ thể của tiểu thương: nhận tiền nhanh và an toàn hơn, giảm phụ thuộc vào tiền mặt, quản lý doanh thu minh bạch hơn, từng bước làm quen với hóa đơn điện tử, tài khoản số và các công cụ quản lý bán hàng. Một mã QR đặt trước quầy hàng có thể là chi tiết rất nhỏ, nhưng phía sau nó là sự thay đổi của cả một thói quen giao dịch. Khi từng khoản thu được ghi nhận trên tài khoản, dữ liệu kinh doanh bắt đầu hình thành; khi dòng tiền trở nên minh bạch hơn, khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính chính thức cũng được mở rộng. Đó là cách hạ tầng tài chính số được bồi đắp từ những giao dịch nhỏ nhất của đời sống đô thị.
Nếu chợ Linh Lang cho thấy chuyển đổi số trong không gian thương mại đô thị, thì xã Chương Dương lại mở ra một lát cắt giàu bản sắc hơn: chuyển đổi số gắn với kinh tế nông thôn, sản phẩm OCOP và làng nghề truyền thống. Xã Chương Dương mới nằm ở phía Nam Thủ đô, có thế mạnh về nông nghiệp, thương mại - dịch vụ và nhiều nghề thủ công lâu đời. Trong đó, thôn Khoái Nội nổi tiếng với nghề thêu ren, thêu tay; còn Từ Vân được biết đến với nghề may cờ Tổ quốc. Những đường kim, mũi chỉ của người thợ Khoái Nội hay những lá cờ đỏ sao vàng được làm nên từ Từ Vân là sản phẩm của bàn tay, ký ức và văn hóa làng nghề. Nhưng để những giá trị ấy tiếp tục sống khỏe trong nền kinh tế hiện đại, câu chuyện không thể chỉ dừng ở gìn giữ nghề; bài toán đặt ra còn là số hóa phương thức bán hàng, mở rộng thị trường, minh bạch dòng tiền, chuẩn hóa hóa đơn, nâng cao năng lực quản trị và đưa sản phẩm truyền thống đến gần hơn với người tiêu dùng trên không gian số.
Chính vì vậy, các mục tiêu của Chiến dịch 100 ngày cao điểm chuyển đổi số năm 2026 tại Chương Dương có ý nghĩa rất thực chất. Địa phương đặt yêu cầu 100% hộ kinh doanh áp dụng hóa đơn điện tử, 100% thôn vận hành mô hình "Thôn số", triển khai cuốn chiếu mô hình chợ và tuyến đường không dùng tiền mặt, hỗ trợ doanh nghiệp và hộ kinh doanh tiếp cận các nền tảng số; đồng thời đưa 05 sản phẩm OCOP lên sàn thương mại điện tử và tổ chức hoạt động livestream quảng bá nông sản, sản phẩm OCOP, sản phẩm làng nghề. Đây không phải những chỉ tiêu rời rạc. Khi ghép lại, chúng tạo thành một chuỗi chuyển đổi từ dữ liệu - thanh toán - quản trị - bán hàng - thị trường. Với một hộ thêu ở Khoái Nội hay một cơ sở may cờ tại Từ Vân, việc có tài khoản số, sử dụng QR, hóa đơn điện tử, quản lý doanh thu và tham gia thương mại điện tử chính là những bước nền tảng để chuyển từ mô hình sản xuất truyền thống sang mô hình kinh doanh có dữ liệu, có khả năng mở rộng và kết nối thị trường tốt hơn.
Trong bức tranh ấy, sự đồng hành của các Chi nhánh BIDV không nên được nhìn đơn thuần như hoạt động phát triển dịch vụ ngân hàng. Giá trị lớn hơn nằm ở việc bổ sung một mắt xích tài chính cho quá trình chuyển đổi số ở cơ sở. Ngân hàng có thể giúp hộ kinh doanh và cơ sở sản xuất đi từ giao dịch tiền mặt sang thanh toán số; từ ghi chép thủ công sang dữ liệu giao dịch; từ một tài khoản thanh toán đơn lẻ sang hệ sinh thái gồm hóa đơn điện tử, quản lý dòng tiền, phần mềm bán hàng và các giải pháp tín dụng phù hợp. Khi dữ liệu kinh doanh được hình thành và dòng tiền được minh bạch, ngân hàng cũng có thêm cơ sở để hiểu khách hàng tốt hơn, thiết kế sản phẩm sát hơn và từng bước mở rộng khả năng tiếp cận vốn chính thức cho những chủ thể kinh tế vốn nhỏ lẻ, phân tán.
Đó cũng là điểm gặp nhau giữa chuyển đổi số và mục tiêu phát triển bao trùm. Công nghệ sẽ không thực sự tạo ra giá trị nếu chỉ phục vụ những doanh nghiệp lớn có nguồn lực mạnh. Giá trị của chuyển đổi số phải được đo bằng khả năng kéo những chủ thể nhỏ nhất cùng tham gia: một tiểu thương ở chợ Linh Lang, một hộ thêu ở Khoái Nội, một cơ sở may cờ ở Từ Vân, một chủ thể OCOP hay một hộ sản xuất nông nghiệp. Khi họ có thể bán hàng trên nền tảng số, nhận tiền không dùng tiền mặt, phát hành hóa đơn điện tử, quản lý doanh thu và tiếp cận nguồn vốn thuận lợi hơn, chuyển đổi số mới thực sự trở thành động lực nâng cao năng suất, mở rộng thị trường và cải thiện sinh kế.
Từ góc độ công tác tham mưu tại Ban Quản lý Khách hàng doanh nghiệp, những mô hình triển khai như tại chợ Linh Lang và xã Chương Dương mang lại một nguồn "dữ liệu thực tiễn" rất có giá trị. Ban vừa tham mưu xây dựng cơ chế, chính sách và gói giải pháp trên phạm vi toàn hệ thống, vừa phối hợp, thúc đẩy các chi nhánh tổ chức thực hiện; ngược lại, phản hồi từ đơn vị kinh doanh và từ khách hàng giúp nhận diện những điểm còn vướng về sản phẩm, quy trình, mức độ thuận tiện hay khả năng tích hợp công nghệ. Chính vòng tuần hoàn tham mưu - triển khai - phản hồi - hoàn thiện làm cho cơ chế không đứng yên trên giấy, mà liên tục được kiểm chứng và điều chỉnh theo nhịp vận động của thị trường. Đây cũng là cách một đơn vị tham mưu tại Trụ sở chính kết nối được định hướng của Đảng ủy BIDV với thực tiễn rất khác nhau của từng địa bàn.
Ở một tầng sâu hơn, sự chuyển đổi tại các làng nghề còn cho thấy mối quan hệ hữu cơ giữa chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Khi cơ sở sản xuất có dữ liệu tốt hơn về nguyên vật liệu, doanh thu, chi phí và quy trình vận hành, việc đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn lực, giảm lãng phí, truy xuất nguồn gốc hay từng bước đáp ứng các tiêu chuẩn sản xuất bền vững cũng trở nên khả thi hơn. Với các doanh nghiệp có quy mô lớn hơn trong khu công nghiệp, khu công nghệ cao và chuỗi cung ứng, BIDV đang định hướng đồng hành bằng các giải pháp như hỗ trợ kiểm kê khí nhà kính, tư vấn lộ trình chuyển đổi xanh, hướng dẫn tiếp cận khoản vay xanh, phát hành trái phiếu xanh và tài trợ chuỗi. Như vậy, "dòng vốn số" và "dòng vốn xanh" không phải hai dòng chảy tách biệt: dữ liệu số giúp ngân hàng hiểu rõ hơn hoạt động của doanh nghiệp, còn tài chính xanh định hướng nguồn lực tới những mô hình sản xuất hiệu quả, ít phát thải và bền vững hơn.
Từ chợ Linh Lang đến làng thêu Khoái Nội, từ nghề may cờ Tổ quốc ở Từ Vân đến các chủ thể OCOP của Chương Dương, có thể nhìn thấy một logic phát triển rất rõ: chuyển đổi số chỉ bền vững khi được đặt trong nhu cầu thật của người dân và doanh nghiệp; còn chính sách chỉ có sức sống khi được tổ chức thực hiện đến tận cơ sở. Những thay đổi tưởng nhỏ - một mã QR, một hóa đơn điện tử, một gian hàng trực tuyến, một dữ liệu doanh thu được ghi nhận đầy đủ - khi được nhân rộng sẽ tạo thành nền tảng cho kinh tế số bao trùm. Đó cũng là một cách rất cụ thể để ngành Ngân hàng góp phần đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống: không chỉ bằng những dự án hạ tầng quy mô lớn, mà bằng việc giúp từng hộ kinh doanh, từng làng nghề và từng doanh nghiệp có thêm công cụ để bước vào kỷ nguyên số với năng lực cạnh tranh cao hơn và cơ hội phát triển bền vững hơn.
Vai trò của đảng viên làm công tác tham mưu: "thực tiễn là thước đo, đổi mới là lẽ sống"
Trong dòng chảy mãnh liệt của chuyển đổi số và công nghiệp hóa, hơn lúc nào hết, công tác xây dựng Đảng trong các doanh nghiệp nhà nước đòi hỏi phải tiếp tục nâng tầm, khơi dậy mạnh mẽ khát vọng cống hiến và tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Bám sát Văn kiện Đại hội XIV của Đảng về công tác tổ chức, cán bộ và tinh thần chỉ đạo cốt lõi của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về xây dựng đội ngũ cán bộ "thực sự có đức, có tài, không ngừng tự đổi mới, ngang tầm nhiệm vụ", mỗi người làm công tác tham mưu ngân hàng phải tự gột rửa tư duy cũ, định vị lại vị trí và trách nhiệm của mình.
Công tác tại Ban Quản lý Khách hàng Doanh nghiệp Trụ sở chính, tôi luôn tự nhắc mình: "Một văn bản tham mưu có giá trị không nằm ở số lượng từ ngữ hay độ dày của tập hồ sơ, mà nằm ở mức độ khả thi khi triển khai tại chi nhánh và sự hài lòng của khách hàng". Trong kỷ nguyên số, người làm tham mưu chính sách không thể "ngồi phòng điều hòa làm chính sách". Chúng tôi buộc phải thấu hiểu ngôn ngữ của công nghệ, nắm bắt mô hình kinh doanh của doanh nghiệp và thấu cảm với những vướng mắc thực tế tại đơn vị cơ sở.
Đã có những buổi thảo luận kéo dài 5-6 giờ đồng hồ liên tục chỉ để tranh luận về việc cắt giảm chỉ 01 biểu mẫu giấy tờ, hay tối ưu hóa quy trình luân chuyển hồ sơ tín dụng trên hệ thống phần mềm nghiệp vụ. Có người hỏi: "Sao phải tỉ mỉ và mất công đến thế?". Bởi chúng tôi hiểu rằng: Mỗi thao tác thừa được cắt bỏ trên hệ thống sẽ tiết kiệm hàng nghìn giờ lao động cho cán bộ toàn hàng; mỗi quy trình được tự động hóa bằng AI và Dữ liệu lớn (Big Data) sẽ giúp một doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn cứu cánh nhanh hơn vài ngày, từ đó có thể chớp lấy cơ hội vàng trên thương trường.
Định hướng của Đảng ủy BIDV tại Nghị quyết 55-NQ/ĐU về việc xây dựng đội ngũ cán bộ nòng cốt với tư duy số đột phá, tinh thông nghiệp vụ, chuẩn mực đạo đức và đẩy mạnh văn hóa đổi mới sáng tạo chính là kim chỉ nam cho công tác tham mưu. Phương thức lãnh đạo của tổ chức đảng trong doanh nghiệp nhà nước hôm nay đang chuyển dịch mạnh mẽ từ quản lý hành chính sang dẫn dắt bằng tầm nhìn, quản trị dựa trên dữ liệu (Data-driven) và lấy hiệu quả thực tiễn làm thước đo cao nhất.
Mỗi phản hồi từ các Chi nhánh BIDV sau những chương trình hỗ trợ như tại tại chợ Linh Lang, phường Giảng Võ hay các địa bàn sản xuất, kinh doanh, làng nghề ở xã Chương Dương; mỗi ý kiến từ doanh nghiệp và hộ kinh doanh đều có thể trở thành một "dữ liệu sống" đối với người làm công tác tham mưu. Từ thực tiễn ấy, Ban Quản lý Khách hàng Doanh nghiệp tiếp tục nghiên cứu, rà soát và hoàn thiện cơ chế, sản phẩm; đồng thời phối hợp, thúc đẩy cùng các chi nhánh để chính sách được triển khai thuận lợi hơn. Sự tương tác hai chiều giữa Trụ sở chính và đơn vị kinh doanh chính là cách để nghị quyết được cụ thể hóa bằng hành động, được kiểm chứng trong thực tiễn và tiếp tục được làm giàu bằng chính những vấn đề thực tiễn đặt ra.
Vươn mình trong kỷ nguyên mới: khát vọng hùng cường từ những "viên gạch số"
Đại hội lần thứ XIV của Đảng mở ra một khúc tráng ca mới trong lịch sử phát triển của dân tộc – Kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam. Để hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc đến năm 2045, chúng ta cần những đột phá mang tầm thời đại về thể chế, nhân lực và hạ tầng.
Nếu như thế kỷ trước, cha ông ta đã dùng mồ hôi, nước mắt và ý chí sắt đá để xẻ núi, ngăn sông, xây dựng nên những công trình thế kỷ bảo vệ và kiến thiết Tổ quốc; thì hôm nay, thế hệ cán bộ, đảng viên ngành Ngân hàng đang vinh dự được góp sức xây dựng những "công trình hạ tầng vô hình" nhưng có sức mạnh vô biên. Đó là hạ tầng tài chính số, là những cụm Trung tâm dữ liệu an toàn, là những chuỗi cung ứng xanh được khơi thông nguồn vốn, và là mạng lưới kết nối niềm tin số phủ rộng khắp mọi miền đất nước.
Phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước theo Nghị quyết 79-NQ/TW, BIDV nói riêng và ngành Ngân hàng nói chung kiên định nhận lấy trách nhiệm tiên phong. Dòng vốn của ngân hàng hôm nay không chỉ là nguồn lực tài chính thuần túy, mà đã trở thành "dòng vốn số, dòng vốn xanh" mang theo công nghệ, tri thức, định hướng chuyển đổi mô hình tăng trưởng bền vững cho toàn nền kinh tế.
Từ thỏa thuận hợp tác với UBND thành phố Hà Nội, lễ ký kết hợp tác chiến lược với GTEL đến những hoạt động hỗ trợ chuyển đổi số của các Chi nhánh BIDV tại các chợ, làng nghề, tuyến phố trên khắp Thủ đô; từ những nền tảng tự động hóa quy trình nghiệp vụ đến những giao dịch không dùng tiền mặt ngày càng quen thuộc trong đời sống... tất cả đang cùng hội tụ thành một mạch phát triển thống nhất. Đó là niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào khả năng chuyển hóa những chủ trương lớn thành cơ chế và hành động cụ thể, và vào sức mạnh của sự phối hợp giữa ngân hàng, chính quyền, doanh nghiệp và người dân trong kiến tạo hạ tầng số quốc gia.
Mỗi cán bộ, đảng viên Ban Quản lý Khách hàng Doanh nghiệp BIDV hôm nay luôn giữ vững bản lĩnh chính trị, không ngừng rèn đức, luyện tài, dấn thân vào những "việc mới, việc khó, chưa có tiền lệ". Chúng tôi nguyện noi gương sáng của Bác Hồ vĩ đại, mang hết tâm huyết và trí tuệ để làm mượt mà hơn những mạch máu giao dịch, vững chắc hơn những bệ phóng tài chính, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân kiến tạo nên hệ thống hạ tầng chiến lược đồng bộ, hiện đại – đưa nền kinh tế Việt Nam tăng tốc bứt phá, kiêu hãnh vươn vai cùng các cường quốc năm châu.
