Đó là nghiên cứu: Đánh giá mức độ và ảnh hưởng phóng xạ tự nhiên trong trầm tích bãi biển phía Bắc Việt Nam.
Nghiên cứu lần đầu xây dựng bức tranh tương đối toàn diện về phóng xạ tự nhiên trong trầm tích tại 43 bãi biển từ Trà Cổ đến Lăng Cô, cho thấy phần lớn khu vực nằm trong giới hạn an toàn, đồng thời cung cấp cơ sở khoa học phục vụ quản lý môi trường và phát triển kinh tế biển.
Mỗi năm, hàng triệu người tìm đến những bãi biển như Trà Cổ, Đồ Sơn, Sầm Sơn, Cửa Lò hay Lăng Cô. Ít người biết rằng trong cát biển luôn tồn tại một lượng chất phóng xạ có nguồn gốc tự nhiên.
Đây là thành phần vốn có của môi trường, không đồng nghĩa với ô nhiễm. Tuy nhiên, hàm lượng có thể khác nhau giữa các khu vực, phụ thuộc vào đặc điểm địa chất và thành phần khoáng vật.
Trong khi nhiều quốc gia đã xây dựng cơ sở dữ liệu về phóng xạ tự nhiên tại các bãi biển, Việt Nam vẫn còn thiếu dữ liệu về lớp cát bề mặt - nơi con người tiếp xúc trực tiếp trong hoạt động du lịch và sinh hoạt.
Xuất phát từ thực tế này, nhóm nghiên cứu Phân viện Hải dương học tại Hải Phòng, thuộc Viện Hải dương học (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam), do TS. Đặng Hoài Nhơn làm chủ nhiệm, thực hiện đề tài "Đánh giá mức độ và ảnh hưởng phóng xạ tự nhiên trong trầm tích bãi biển phía Bắc Việt Nam".
43 bãi biển từ Trà Cổ đến Lăng Cô được lấy mẫu
Tháng 7/2024, nhóm nghiên cứu khảo sát và lấy mẫu tại 43 bãi biển kéo dài từ Trà Cổ (Quảng Ninh) đến Lăng Cô (Thừa Thiên Huế). Các mẫu được thu theo quy trình thống nhất, sau đó đưa về phòng thí nghiệm để phân tích hoạt độ các đồng vị phóng xạ tự nhiên, thành phần cấp hạt và khoáng vật.
Kết quả cho thấy trầm tích tại khu vực nghiên cứu chủ yếu là cát mịn và cát trung, với khoáng vật phổ biến là thạch anh. Đáng chú ý, sự phân bố phóng xạ tự nhiên không diễn ra ngẫu nhiên mà liên quan chặt chẽ tới kích thước hạt và thành phần khoáng vật.
Những khu vực có nhiều khoáng vật sét và khoáng vật nặng thường có mức phóng xạ cao hơn. Ngược lại, cát giàu thạch anh có xu hướng tích tụ ít chất phóng xạ hơn.
Từ các kết quả này, nhóm nghiên cứu đã xây dựng cơ sở dữ liệu có hệ thống về đặc điểm trầm tích và phóng xạ tự nhiên tại các bãi biển phía Bắc Việt Nam. Đây cũng là lần đầu mối liên hệ giữa kích thước hạt, thành phần khoáng vật và mức phóng xạ trong trầm tích bãi biển khu vực này được làm rõ.
Theo TS. Đặng Hoài Nhơn điện diện nhóm nghiên cứu, nhìn chung, mức phóng xạ tự nhiên và các chỉ số đánh giá rủi ro tại phần lớn điểm khảo sát nằm trong giới hạn khuyến nghị của Ủy ban Khoa học Liên Hợp Quốc về Tác động của Bức xạ Nguyên tử (UNSCEAR). Điều này cho thấy phần lớn các bãi biển trong khu vực nghiên cứu vẫn an toàn đối với con người và hệ sinh thái.
Tuy nhiên, một số khu vực tại Thanh Hóa, Nam Định (nay thuộc tỉnh Ninh Bình), Nghệ An và Hà Tĩnh có mức phóng xạ và chỉ số rủi ro cao hơn giá trị trung bình toàn cầu. Những khu vực này cần được tiếp tục theo dõi, quan trắc để có dữ liệu đầy đủ hơn.
Cơ sở cho quản lý biển bền vững
Nghiên cứu không chỉ bổ sung dữ liệu khoa học về phóng xạ tự nhiên mà còn có giá trị thực tiễn trong quản lý môi trường ven biển. Bộ dữ liệu có thể hỗ trợ các địa phương đánh giá nguy cơ tại từng khu vực, phục vụ quy hoạch du lịch, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.
Theo nhóm nghiên cứu, những nơi có mức phóng xạ tự nhiên cao hơn nền chung cần được quan trắc thường xuyên. Việc sử dụng cát bãi biển làm vật liệu san lấp hoặc xây dựng cũng cần được xem xét dựa trên kết quả đánh giá khoa học, đặc biệt tại các khu vực có mức phóng xạ cao.
Đề tài đã có 3 bài báo được công bố trên các tạp chí quốc tế thuộc danh mục SCIE và một bài trên tạp chí khoa học trong nước, đồng thời góp phần đào tạo một nghiên cứu sinh và một học viên cao học.
TS. Đặng Hoài Nhơn cho rằng kết quả này mới là bước đầu trong việc xây dựng cơ sở dữ liệu phóng xạ tự nhiên cho các vùng biển Việt Nam. Thời gian tới, nhóm dự kiến mở rộng khảo sát tới các bãi biển phía Nam và các đảo ven bờ, đồng thời tăng cường quan trắc định kỳ để theo dõi biến động phóng xạ tự nhiên dưới tác động của biến đổi khí hậu và hoạt động của con người.
Việc hoàn thiện cơ sở dữ liệu trên phạm vi cả nước sẽ góp phần đánh giá chính xác hơn an toàn môi trường ven biển, sử dụng hợp lý tài nguyên và phát triển kinh tế biển theo hướng bền vững.
Tài liệu: Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Minh Khang
