Sau hợp nhất, không gian phát triển của Lào Cai rộng hơn, đồng thời bài toán phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi cũng được đặt ra với quy mô lớn hơn. Toàn tỉnh có 34 dân tộc sinh sống, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 60,9% dân số. Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều hiện ở mức 11,43%; riêng trong đồng bào dân tộc thiểu số còn 43.303 hộ nghèo và cận nghèo. Gồm người Kinh, Mông, Tày, Dao, Thái, Nùng, Giáy, Hà Nhì, Phù Lá, Sán Chay, Bố Y... Đồng bào dân tộc thiểu số chiếm khoảng 57,6% đến 60,9% dân số toàn tỉnh. Dân tộc chiếm số lượng đông. Người Mông, Tày, Dao và Kinh là những cộng đồng có quy mô dân số lớn nhất tại đây. bước sang một giai đoạn phát triển mới, câu chuyện không thể chỉ dừng ở việc “có chính sách” hay “được hỗ trợ”.
Đến nay dù diện mạo vùng cao đã có nhiều đổi thay, hành trình thu hẹp khoảng cách phát triển vẫn còn không ít gian nan. Nhưng điều đáng quan tâm không chỉ là Nhà nước dành bao nhiêu nguồn lực cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, mà quan trọng hơn, nguồn lực ấy đã đi vào cuộc sống như thế nào, người dân được hưởng lợi ra sao và họ có thêm những điều kiện gì để tự mình vươn lên. Nhìn từ những bản làng hôm nay, là minh chứng đang dần hiện lên qua từng con đường, từng mái nhà và những sinh kế được gây dựng bằng chính bàn tay của người dân.
Tuyên truyền, phổ biến pháp luật được đưa đến tận cơ sở, giúp đồng bào vùng cao Lào Cai (Ảnh nguồn Lào Cai)
Các cấp, các ngành của tỉnh Lào Cai đã tuyên truyền, phổ biến các văn bản liên quan đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của đồng bào dân tộc, đến đời sống sinh hoạt hàng ngày và tình hình phát triển kinh tế - xã hội tới Nhân dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi như: Bộ Luật dân sự, Bộ Luật hình sự, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Luật Đất đai, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Phòng, chống ma tuý, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật chống bạo lực gia đình, Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng, chống mua bán người, Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Hộ tịch, Luật An ninh mạng... Nâng cao nhận thức chuyển đổi tư duy từ sản xuất tự cung, tự cấp sang kinh tế hàng hóa, đồng thời đẩy mạnh phòng chống tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống. Đẩy mạnh Phát triển kinh tế - xã hội. Tuyên truyền phấn đấu nâng thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số lên khoảng 60 triệu đồng/người/năm vào năm 2030. Đưa An sinh giảm nghèo đa chiều bình quân 3-3,5%/năm, bảo đảm 100% hộ dân được sử dụng điện và nước sinh hoạt hợp vệ sinh…
Đặc biệt, thực hiện về đổi mới và nâng cao năng lực công tác thông tin tuyên truyền, năm 2026, tỉnh Lào Cai đã chủ động đổi mới công tác thông tin đối ngoại tại vùng dân tộc thiểu số và miền núi theo hướng sáng tạo, gắn với nhu cầu thực tiễn của đồng bào. Công tác thông tin đối ngoại được gắn chặt với thực tiễn đời sống, sử dụng linh hoạt các kênh truyền thông hiện đại song song với hình thức dân vận truyền thống; phát huy vai trò của người có uy tín, già làng, trưởng bản giữa Đảng, chính quyền và Nhân dân.
Phong phú hình thức tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho đồng bào DTTSMN (Ảnh nguồn Lào Cai)
Các nội dung tuyên truyền tập trung vào việc phổ biến đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác dân tộc, phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Đồng thời, tỉnh Lào Cai chú trọng biểu dương các điển hình tiên tiến, phát huy vai trò của người có uy tín, quảng bá giá trị văn hóa truyền thống gắn với phát triển du lịch, thương mại biên giới và đấu tranh phản bác các thông tin sai trái, thù địch. Tại các xã biên giới nhiều mô hình thông tin cơ sở đã phát huy hiệu quả: phát thanh tiếng dân tộc, tổ truyền thông cộng đồng, câu lạc bộ người có uy tín...Qua đó, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách dân tộc của Nhà nước được chuyển tải đến từng thôn bản, giúp người dân hiểu rõ và tích cực tham gia phát triển kinh tế, bảo vệ biên giới, gìn giữ bản sắc văn hóa.
Đổi mới nội dung và phương thức tuyên truyền theo hướng gần gũi, dễ hiểu giúp kiến thức pháp luật từng bước đi vào đời sống (Ảnh nguồn Lào Cai).
Trọng tâm tuyên truyền trong năm 2026 là giới thiệu, quảng bá tiềm năng, thế mạnh của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi Lào Cai. Trong đó nhấn mạnh chính sách thu hút đầu tư, phát triển hạ tầng, du lịch, nông nghiệp xanh. Đồng thời, tuyên truyền sâu rộng các giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng các dân tộc, từ lễ hội, nghệ thuật dân gian đến tri thức bản địa, gắn với phát triển du lịch bền vững. Công tác tuyên truyền đã tạo sự chuyển biến về nhận thức và ý thức tự giác chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, củng cố niềm tin của đồng bào với Đảng, Nhà nước; vận động đồng bào các dân tộc xây dựng xã hội lành mạnh, sống và làm việc theo Hiến pháp, pháp luật, nhằm ổn định chính trị, tạo sự đồng thuận xã hội, thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển bền vững vùng dân tộc thiểu số và miền núi.
Là một tỉnh miền núi, biên giới với phần lớn địa bàn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi như Lào Cai, hiểu biết và chấp hành pháp luật còn có ý nghĩa rộng hơn đối với sự phát triển của cộng đồng. Khi người dân hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình, những mâu thuẫn có thêm cơ hội được giải quyết từ cơ sở; quyền, lợi ích hợp pháp của người yếu thế được bảo vệ tốt hơn; những tập tục không còn phù hợp từng bước được thay đổi. Qua đó, sự đồng thuận trong cộng đồng được củng cố, góp phần giữ gìn an ninh, trật tự và xây dựng những bản làng bình yên. Việc trực tiếp phổ biến pháp luật đến tận bản, vì thế, không phải đưa những trang văn bản đến vùng cao. Đó là hành trình làm cho pháp luật trở nên gần gũi, dễ hiểu và có thể sử dụng trong chính cuộc sống hằng ngày; để mỗi người dân biết quyền của mình, hiểu trách nhiệm của mình và biết tìm đến đâu khi cần được bảo vệ.
Khi pháp luật trở thành một điểm tựa tin cậy trong đời sống cộng đồng, khoảng cách từ chính sách đến người dân cũng được rút ngắn. Và từ những buổi tuyên truyền giữa bản làng, niềm tin vào pháp luật, vào chính sách của Nhà nước được vun đắp bằng chính những điều thiết thực nhất của cuộc sống. Ở một vùng đất giàu bản sắc như Lào Cai, đẩy mạnh tuyên truyền về bản sắc văn hóa cũng là một nguồn lực không thể đứng ngoài hành trình phát triển. Bằng những tri thức bản địa, nghề truyền thống, nông sản đặc hữu, cảnh quan cùng đời sống văn hóa phong phú của cộng đồng các dân tộc, nếu được gìn giữ và khai thác phù hợp, có thể tạo thêm sinh kế thông qua du lịch, dịch vụ, thương mại và những sản phẩm mang dấu ấn riêng của từng vùng đất. Khi đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 60,9% dân số toàn tỉnh, phát triển vùng cao không còn là câu chuyện riêng của một khu vực, mà là một phần quan trọng trong bài toán phát triển chung của Lào Cai.
Kết quả được chứng minh bằng những con số về giảm nghèo, tuyến đường được mở, những mái nhà mới hay những mô hình sinh kế ngày càng hiệu quả đều đáng trân trọng. Hiện trên toàn tỉnh Lào Cai 100% xã có đường ô tô đến trung tâm được bê tông, nhựa hóa. 99% hộ dân được sử dụng điện lưới và 98,6% hộ có nước sinh hoạt hợp vệ sinh. Thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số tăng cao, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh nhờ các chương trình mục tiêu quốc gia. Đồng bào dân tộc vừa tiếp cận nhịp sống hiện đại vừa bền bỉ giữ gìn các nghề thủ công truyền thống như dệt lanh, thêu thổ cẩm và trang phục đặc trưng… Nhưng thước đo cuối cùng của chính sách vẫn phải là chất lượng cuộc sống và khả năng tự vươn lên của người dân. Khi chính sách tạo được cơ hội, pháp luật củng cố được niềm tin và chính người dân trở thành chủ thể của sự phát triển, những đổi thay ở vùng cao sẽ không chỉ được ghi bằng những con số giảm nghèo, mà còn được viết bằng cuộc sống ngày một đủ đầy hơn, bằng những bản làng có sức sống mới và bằng khát vọng vươn lên ngay trên chính quê hương mình./.
