Đó chính là: Quả tầm bóp.
Trước đây mọc đầy bờ ruộng, ven đường và thường bị xem như cỏ dại, quả tầm bóp ít được người Việt chú ý. Thế nhưng hiện nay, loại quả này không chỉ xuất hiện trong các nhà hàng như một loại rau đặc sản mà còn được bán với giá khá cao ở nhiều nước châu Âu nhờ giá trị dinh dưỡng và dược liệu.
Theo các chuyên gia, tầm bóp chứa nhiều vitamin, chất chống oxy hóa và được y học cổ truyền sử dụng trong hỗ trợ điều trị nhiều bệnh lý. Tuy nhiên, việc sử dụng cần đúng cách, không nên thần thánh hóa như "thần dược" chữa bách bệnh.
Ghi nhận tại Anh, quả tầm bóp (còn gọi là quả đèn lồng, bôm bốp, thù lù cạnh) được bán trong nhiều siêu thị với giá khoảng 12,5-20 bảng Anh/kg, tương đương 450.000-700.000 đồng/kg. Mức giá này cao hơn nhiều loại trái cây phổ biến như táo, nho hay dâu tây.
Loại quả bổ dưỡng
Theo lương y đa khoa Bùi Đắc Sáng, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, cây tầm bóp có tên khoa học Physalis angulata L., thuộc họ Cà (Solanaceae), có nguồn gốc từ khu vực Nam Mỹ nhưng hiện phân bố rộng ở các vùng nhiệt đới, trong đó có Việt Nam. Cây mọc hoang ở bờ ruộng, ven đường, bãi cỏ, đất trống và hiện được nhiều địa phương trồng để làm rau hoặc dược liệu. Không chỉ quả, toàn bộ cây gồm rễ, thân, lá đều có thể sử dụng làm thuốc theo y học cổ truyền.
Theo các nghiên cứu, quả tầm bóp chứa nhiều vitamin C, chất xơ, protein, carbohydrate cùng các khoáng chất như canxi, magie, sắt, kẽm, phốt pho...
Chỉ một khẩu phần khoảng 140 g quả tầm bóp đã cung cấp lượng vitamin C đáp ứng hơn một nửa nhu cầu khuyến nghị mỗi ngày của người trưởng thành. Vitamin C giúp tăng cường miễn dịch, hỗ trợ tổng hợp collagen, thúc đẩy lành vết thương và tăng hấp thu sắt.
Ngoài ra, loại quả này còn chứa nhiều chất chống oxy hóa giúp bảo vệ tế bào trước tác động của các gốc tự do - yếu tố liên quan đến quá trình lão hóa và nhiều bệnh mạn tính.
Một số nghiên cứu cũng ghi nhận tầm bóp chứa nhóm hợp chất steroid thực vật gọi là withanolide cùng các hoạt chất physalin và physagulin. Trong điều kiện phòng thí nghiệm, các hoạt chất này cho thấy khả năng chống viêm và ức chế sự phát triển của một số dòng tế bào ung thư. Tuy nhiên, các chuyên gia lưu ý đây mới là kết quả nghiên cứu tiền lâm sàng, chưa đủ bằng chứng để khẳng định tầm bóp có thể chữa ung thư ở người.
Vị thuốc quen thuộc trong y học cổ truyền
Trong y học cổ truyền, toàn cây tầm bóp có vị đắng, tính mát, không độc, có tác dụng thanh nhiệt, lợi thấp, hóa đờm, giảm ho và tiêu viêm.
Riêng quả tầm bóp có vị chua nhẹ, tính bình, thường được dùng để thanh nhiệt, lợi tiểu, tiêu đờm. Quả chín có thể ăn trực tiếp hoặc phơi khô làm mứt, giúp bổ sung vitamin C.
Tầm bóp được sử dụng hỗ trợ điều trị các chứng viêm họng, ho khan, ho có đờm, cảm sốt, khàn tiếng, nóng trong, thủy đậu, ban đỏ, tiểu ít và một số bệnh đường tiết niệu.
Theo ông Sáng, quả tầm bóp còn được dùng hỗ trợ phòng ngừa các bệnh đường tiết niệu như sỏi thận, sỏi bàng quang nhờ tác dụng lợi tiểu.
Ngoài ra, một số bài thuốc dân gian còn sử dụng thân, lá hoặc rễ cây để hỗ trợ điều trị đái tháo đường, giảm viêm hoặc cải thiện miễn dịch. Tuy nhiên, hiệu quả chủ yếu dựa trên kinh nghiệm sử dụng lâu đời và cần được đánh giá thêm bằng các nghiên cứu lâm sàng quy mô lớn.
Lưu ý khi dùng
Mặc dù là dược liệu khá lành tính, ông Sáng khuyến cáo người dân không nên tự ý sử dụng tầm bóp trong thời gian dài hoặc coi đây là "thần dược".
Phụ nữ mang thai, trẻ nhỏ, người đang điều trị bằng thuốc tây hoặc thực phẩm chức năng cần tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng để tránh tương tác thuốc hoặc các tác dụng không mong muốn.
Đặc biệt, tầm bóp rất dễ bị nhầm với cây lu lu đực - loài thực vật có chứa độc tố solanin. Có thể phân biệt bằng đặc điểm quả tầm bóp được bao trong lớp đài hình lồng đèn và khi chín có màu vàng hoặc đỏ cam, trong khi quả lu lu mọc thành chùm và chuyển màu đen khi chín.
Các chuyên gia cũng nhấn mạnh, những thông tin về khả năng chống ung thư, hạ đường huyết hay tăng cường miễn dịch của tầm bóp hiện chủ yếu dựa trên các nghiên cứu thực nghiệm. Người bệnh không nên tự ý bỏ phác đồ điều trị để sử dụng các bài thuốc dân gian mà cần tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc người có chuyên môn về y học cổ truyền nhằm đảm bảo an toàn và phát huy hiệu quả phù hợp.
Ngọc Minh
