Theo báo cáo mới của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS), Mỹ có thể đã tiêu tốn tới 61% kho tên lửa Patriot chỉ trong 39 ngày xung đột với Iran, trong khi các đợt bổ sung tiếp theo được dự báo sẽ mất nhiều năm mới hoàn tất.
Đây là tín hiệu đáng lo ngại đối với Ukraine, quốc gia đang ngày càng cạn kiệt hệ thống tên lửa Patriot - lá chắn quan trọng trước các đợt tấn công bằng tên lửa đạn đạo của Nga. Chỉ riêng tuần trước, Nga đã tiến hành đợt tập kích lớn nhất trong nhiều tháng.
Không chỉ Ukraine, nhiều quốc gia khác cũng đang phụ thuộc vào các hệ thống phòng không của Mỹ như Patriot và THAAD (Terminal High Altitude Area Defense), đồng thời đều muốn gia tăng số lượng sở hữu.
CSIS nhận định: “Sự thiếu hụt trong kho dự trữ sẽ ảnh hưởng đến nguồn cung tên lửa Patriot, THAAD và tên lửa tấn công chính xác PrSM của Mỹ dành cho Ukraine cũng như các đồng minh và đối tác khác đang sử dụng các hệ thống này.”
Do Lầu Năm Góc cũng phải ưu tiên bổ sung kho dự trữ cho chính mình, “Mỹ sẽ phải cạnh tranh với các quốc gia khác cũng đang tìm cách tăng cường và mở rộng kho tên lửa của họ”.
Hệ thống tên lửa phòng không THAAD. Ảnh minh hoạ
Trước thực trạng này, Tổng thống Volodymyr Zelensky đã thúc đẩy các công ty quốc phòng Ukraine tự phát triển năng lực phòng thủ tên lửa đạn đạo trong vòng một năm nhằm chấm dứt sự phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài. Ông cho biết Kyiv đang đàm phán với nhiều chính phủ để hiện thực hóa mục tiêu này.
Tuy nhiên, đây là nhiệm vụ cực kỳ khó khăn. Ukraine trước tiên phải tự xây dựng hệ thống radar cần thiết trong bối cảnh nước này còn thiếu cả những loại radar kém tiên tiến hơn nhiều. Việc phát triển tên lửa đánh chặn cũng có thể tiêu tốn hàng tỷ USD, trong khi chi phí sản xuất mỗi quả lên tới hàng triệu USD, chưa kể không có gì đảm bảo chúng sẽ đủ hiệu quả trước các mối đe dọa tên lửa đạn đạo hiện đại.
Tất cả diễn ra trong bối cảnh Ukraine liên tục hứng chịu các cuộc không kích và phải đối mặt với ngân sách quốc phòng vô cùng eo hẹp, thậm chí còn có nguy cơ bị cắt giảm nếu ông Viktor Orban đắc cử tổng thống Hungary.
45% đến 61% kho Patriot bị tiêu hao chỉ trong 39 ngày
Hiện có 18 quốc gia sử dụng hệ thống Patriot. Phiên bản tên lửa chủ lực mà Mỹ và nhiều nước đang vận hành là Patriot Advanced Capability-3 Missile Segment Enhancement (PAC-3 MSE).
Theo CSIS, trước chiến tranh với Iran, Mỹ sở hữu khoảng 2.330 tên lửa PAC-3 MSE. Tuy nhiên, chỉ trong 39 ngày của chiến dịch không kích trước khi lệnh ngừng bắn được ký kết, Washington đã sử dụng từ 1.060 đến 1.430 quả, tương đương khoảng 45% đến 61% tổng kho dự trữ.
CSIS cho biết Mỹ có thể vẫn còn khoảng 400 tên lửa PAC-2 đời cũ, nhưng quân đội nước này không còn mua thêm loại này và sản lượng sản xuất cũng rất hạn chế. Ngoài ra, PAC-2 kém hiệu quả hơn đáng kể trong việc đối phó với các mối đe dọa tên lửa đạn đạo hiện đại.
Mỗi tên lửa PAC-3 có giá khoảng 3,9 triệu USD. Cho đến gần đây, Mỹ chỉ sản xuất khoảng 550–600 quả mỗi năm, trong đó một nửa dành cho nhu cầu nội địa và phần còn lại để xuất khẩu. Ukraine là một trong những nước sử dụng nhiều loại tên lửa này nhất, với ước tính của CSIS cho rằng Kyiv có thể đã nhận khoảng 600 quả trong suốt cuộc chiến.
Tên lửa PAC-3 MSE. Ảnh: Getty
Gần đây, Bộ Quốc phòng Mỹ đã ký thỏa thuận khung với tập đoàn quốc phòng Lockheed Martin nhằm nâng sản lượng PAC-3 MSE lên 2.000 quả mỗi năm trong vòng 6–7 năm tới. Tuy nhiên, thỏa thuận này vẫn chưa được cấp vốn và chỉ được kỳ vọng sẽ dần giải quyết tình trạng thiếu hụt trong nửa thập kỷ tới, chứ chưa thể tháo gỡ nút thắt ngắn hạn.
Không chỉ Patriot, Mỹ cũng đã tiêu hao đáng kể kho tên lửa THAAD khi sử dụng từ 190 đến 290 quả trong tổng số 360 quả dự trữ. Kho tên lửa Standard Missile 3 và Standard Missile 6 của hải quân Mỹ cũng giảm mạnh, với mức sử dụng lần lượt lên tới 250/410 quả và 370/1.160 quả.
Bổ sung nguồn cung có thể mất hơn 4 năm
Trước khi có thể sản xuất thêm tên lửa, Quốc hội Mỹ – vốn đang bị chia rẽ sâu sắc – cần phải thông qua dự luật phân bổ ngân sách. Điều này càng khó khăn hơn trong năm nay khi phần lớn chi tiêu mua sắm nằm trong dự luật bổ sung ngân sách năm tài chính 2026 và dự luật điều chỉnh ngân sách năm tài chính 2027.
CSIS cho biết: “Thời gian sản xuất cho lô hàng đầu tiên theo thông lệ vào khoảng 24 tháng, nhưng do các đơn đặt hàng đạn dược đã vượt quá năng lực sản xuất trong những năm gần đây, thời gian này đã kéo dài lên 36 tháng hoặc hơn.”
“Việc hoàn tất toàn bộ lô hàng cần thêm khoảng 12 tháng nữa. Như vậy tổng thời gian vào khoảng 52 tháng, tức hơn 4 năm.”
Dù tốc độ phóng tên lửa đạn đạo của Iran và mức sử dụng Patriot, THAAD của Mỹ đã giảm dần trong suốt cuộc chiến, nhưng chỉ trong chưa đầy hai tháng, Washington đã tiêu tốn một nửa hoặc hơn kho dự trữ của cả hai hệ thống này. Trong khi đó, Iran vẫn được đánh giá còn năng lực đáng kể để tiếp tục sản xuất tên lửa và UAV nếu xung đột bùng phát trở lại.
Sau khi Chiến dịch Epic Fury kết thúc, kho đạn dược của Mỹ sẽ bắt đầu được phục hồi, nhưng việc khôi phục lại mức dự trữ đã cạn kiệt và đạt ngưỡng mong muốn sẽ cần nhiều năm.
Đầu tháng này, Kyiv từng có thêm hy vọng khi nhà thầu quốc phòng Raytheon ký hợp đồng trị giá 3,7 tỷ USD để sản xuất “vài trăm” tên lửa PAC-2 GEM đời cũ cho hệ thống Patriot của Ukraine. Tuy nhiên, loại tên lửa này kém hiệu quả hơn so với các phiên bản mới trong việc đánh chặn tên lửa đạn đạo hiện đại.
Tệ hơn, thời điểm Ukraine có thể nhận được số tên lửa này vẫn chưa rõ ràng. Tháng 12 năm ngoái, Hartpunkt đưa tin Đức có kế hoạch sản xuất tên lửa PAC-2 GEM-T trên lãnh thổ nước này với sự hợp tác của Raytheon, nhưng lô 1.000 quả đầu tiên dành cho Đức và một số quốc gia châu Âu khác chỉ dự kiến được bàn giao vào năm 2028.
Tên lửa PAC-2 GEM. Ảnh minh hoạ
Phương án thay thế: SAMP/T của Pháp – Ý
Ukraine cũng đang xem xét các lựa chọn thay thế khác như hệ thống phòng không SAMP/T của Pháp và Italy. Cả hai nước này đều đã viện trợ một số tổ hợp cho Kyiv.
Tháng 11, Tổng thống Zelenskyy ký hiệp ước an ninh 10 năm với Tổng thống Pháp Emmanuel Macron, mở đường cho Ukraine mua thêm các hệ thống SAMP/T. Theo các báo cáo, Kyiv đang hướng tới mục tiêu sở hữu thêm 8 tổ hợp.
Chi phí ước tính vào khoảng 3 tỷ euro. Gần đây, Đan Mạch đã ký thỏa thuận mua 4 hệ thống với giá 1,47 tỷ euro, bao gồm tên lửa, huấn luyện và hỗ trợ kỹ thuật.
Tên lửa Aster-30 sử dụng trong hệ thống SAMP/T có giá rẻ hơn PAC-3 MSE, đồng thời số quốc gia sử dụng loại tên lửa này cũng ít hơn, tạo ra một số lợi thế nhất định cho Ukraine.
Tuy nhiên, tốc độ sản xuất Aster-30 lại thấp hơn đáng kể. Một báo cáo quốc phòng của Pháp tháng 12/2024 cho biết sản lượng thông thường chỉ đạt 80–100 quả mỗi năm, với kế hoạch nâng lên 300 quả/năm vào 2028.
Ngay cả khi toàn bộ số tên lửa này được chuyển cho Ukraine - điều gần như không thể xảy ra - thì vẫn không đủ để đối phó với năng lực sản xuất hơn 60 tên lửa đạn đạo mỗi tháng của Nga, theo đánh giá của tình báo Ukraine.
“Không còn lựa chọn nào khác ngoài việc thử”
Trong bối cảnh đó, Ukraine buộc phải tìm kiếm các giải pháp khác, bao gồm đề xuất của ông Zelensky về việc xây dựng chương trình phòng thủ tên lửa nội địa.
Valery Zarubin, đồng sáng lập BlueBird Tech của Ukraine - công ty chuyên sản xuất UAV, hệ thống tác chiến điện tử và nhiều sản phẩm quốc phòng khác - bày tỏ sự lạc quan: “Chúng ta phải tự phát triển hệ thống phòng không của riêng mình thay vì phụ thuộc vào các nhà sản xuất lớn trên thị trường này. Tôi tin chắc rằng chúng ta sẽ sớm tạo ra những giải pháp tương tự Patriot nhưng với chi phí thấp hơn đáng kể”.
Tuy nhiên, theo các nhà phân tích quân sự của Defense Express, việc phát triển một hệ thống đánh chặn tên lửa đạn đạo khả thi đòi hỏi nhiều hơn là năng lực kỹ thuật, mà còn là nguồn tài chính khổng lồ và khả năng vượt qua hàng loạt thách thức phức tạp.
Hệ thống radar phải theo dõi quỹ đạo tên lửa với độ chính xác cực cao, duy trì tầm nhìn tối đa để tránh vùng chết. Tên lửa đánh chặn phải có độ chính xác tuyệt đối, khả năng cơ động cực nhanh và chịu được lực tác động rất lớn mới có cơ hội đánh chặn mục tiêu đang bay với tốc độ hàng km mỗi giây.
Bệ phóng, radar và hệ thống điều khiển cũng phải vận hành đồng bộ như một cỗ máy hoàn chỉnh, có khả năng nhanh chóng xác định mối đe dọa, dự đoán quỹ đạo, lựa chọn phương án đánh chặn và truyền tín hiệu dẫn đường cho tên lửa cho đến khi đầu dò khóa mục tiêu.
Defense Express nhận định: “Ngay cả khi giải quyết được tất cả những nhiệm vụ này, vẫn không có gì đảm bảo hệ thống sẽ hoạt động hiệu quả trong điều kiện chiến đấu thực tế, chứ không chỉ trên thao trường…Nhưng trong hoàn cảnh hiện tại của Ukraine, dường như không còn lựa chọn nào khác ngoài việc thử".
