Một nghiên cứu trên 2.130 cặp mẹ - con gái trưởng thành cho thấy một thực tế đáng chú ý: những vấn đề cảm xúc của người mẹ có thể liên quan mật thiết đến sức khỏe tinh thần của con cái. Đây cũng là lời nhắc nhở để các bậc cha mẹ nhìn lại cách mình tương tác với con trong đời sống hằng ngày.
Nghiên cứu GMATCH do Đại học Chiết Giang và Bệnh viện Phụ sản Trẻ em Hoài An (Trung Quốc) thực hiện cho thấy, trong số những người mẹ có triệu chứng trầm cảm, con gái của họ có nguy cơ xuất hiện triệu chứng trầm cảm cao hơn khoảng 4,29 lần và lo âu cao hơn 3,50 lần. Khi người mẹ có triệu chứng lo âu, nguy cơ con gái có triệu chứng trầm cảm cao hơn 3,95 lần, còn nguy cơ lo âu cao hơn 5,47 lần.
Nhóm mẹ trong nghiên cứu có độ tuổi trung bình khoảng 56, trong khi nhóm con gái trung bình khoảng 31 tuổi. Những con số này cho thấy cảm xúc và cách ứng xử trong gia đình có thể ảnh hưởng đến con cái thông qua quá trình tương tác lâu dài.
Cảm xúc và cách nuôi dạy của mẹ ảnh hưởng lớn đến con
Trong một gia đình, nếu người phụ nữ thường xuyên phàn nàn, trách móc, bầu không khí gia đình cũng có thể dần thay đổi. Người chồng ban đầu còn giải thích, sau đó chuyển sang im lặng; từ việc góp ý, trò chuyện trở thành ít nói, đóng cửa về phòng. Những chuyện nhỏ liên tục được nhắc lại, trong khi những vấn đề lớn lại không còn được cùng nhau bàn bạc. Không khí gia đình vì thế có thể ngày càng căng thẳng.
Một nghiên cứu theo dõi 132 gia đình tại Anh trong 12 năm cho thấy, những đứa trẻ có mẹ từng mắc trầm cảm sau sinh có nguy cơ xuất hiện hành vi chống đối, bạo lực ở tuổi 11 cao hơn khoảng 4 lần so với những trẻ khác; nguy cơ sử dụng các vật nguy hiểm như gạch, gậy bóng chày để gây bạo lực cũng cao hơn khoảng 9 lần.
Một nghiên cứu khác tại Israel theo dõi 125 trẻ từ khi còn là trẻ sơ sinh đến 10 tuổi cho thấy nhóm trẻ có mẹ bị trầm cảm có một số chỉ dấu sinh học liên quan đến stress và miễn dịch cao hơn, đồng thời trẻ dễ xuất hiện các biểu hiện lo âu, thu mình hơn.
Tất nhiên, hay than phiền không đồng nghĩa với mắc trầm cảm. Tuy nhiên, nếu một người thường xuyên sống trong trạng thái tiêu cực, điều đó có thể khiến các thành viên khác trong gia đình dần né tránh giao tiếp. Mối quan hệ vợ chồng cũng giống như một “tài khoản tình cảm”, nếu ngày nào cũng bị rút đi một chút mà không được bồi đắp, sự gắn kết cũng có thể dần cạn kiệt.
Không chỉ cảm xúc, một vấn đề khác cũng đáng được cha mẹ nhìn nhận: mức độ can thiệp vào cuộc sống của con khi con đã trưởng thành.
Chọn ngành học, đổi việc, kết bạn, yêu đương hay kết hôn, tất cả đều làm theo ý mẹ. Khi con đưa ra lựa chọn không vừa ý, cha mẹ có thể nói những câu như: “Con không hiểu gì cả”, “Mẹ nuôi con ăn học bao nhiêu năm để làm gì?”. Những cách gây áp lực dựa trên cảm giác mắc nợ, thái độ lạnh nhạt, kiểm tra điện thoại hoặc liên tục nhắc đến công lao nuôi dưỡng có thể khiến con dần mất đi khả năng tự quyết.
Khi bị kiểm soát trong thời gian dài, con cái có thể đi theo hai hướng khác nhau. Một số người quen với việc chờ người khác đưa ra quyết định, đến khi kết hôn cũng khó tự mình lựa chọn. Một số khác lại cố gắng tách khỏi gia đình càng nhanh càng tốt, cảm thấy khó chịu mỗi khi mẹ gọi điện hoặc can thiệp vào cuộc sống. Đáng chú ý là khi họ có con riêng, họ cũng có thể vô thức lặp lại cách nuôi dạy mà mình từng trải qua.
Một gia đình ổn định không nhất thiết là gia đình không có bất đồng. Điều quan trọng hơn là người lớn biết cách xử lý bất đồng mà không biến con cái thành đối tượng kiểm soát, cũng không biến trẻ thành người phải gánh cảm xúc của người lớn.
Khi người mẹ biết điều chỉnh cảm xúc, người chồng sẵn sàng lên tiếng, vợ chồng trẻ có quyền tự quyết với gia đình nhỏ của mình, thế hệ sau cũng có cơ hội học được cách giao tiếp và giải quyết vấn đề lành mạnh hơn.
Gia đình không phải nơi xem ai có tiếng nói lớn hơn, mà là nơi mỗi người biết khi nào cần nói, khi nào cần lắng nghe và quan trọng nhất là biết lúc nào nên trao quyền lựa chọn trở lại cho người thuộc về cuộc đời đó.
Hiểu Đan (Theo QQ)
