Trong lịch sử văn hóa Việt Nam, không nhiều nhân vật có sức ảnh hưởng vượt qua biên giới quốc gia để được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Những tên tuổi được UNESCO vinh danh là danh nhân văn hóa thế giới đều là những con người có đóng góp đặc biệt cho sự phát triển của văn hóa, tư tưởng và tri thức nhân loại.
Đặc biệt là trong số 8 danh nhân văn hóa thế giới của Việt Nam được UNESCO ghi danh đến nay, chỉ có duy nhất một người là phụ nữ. Đó là nữ sĩ Hồ Xuân Hương - người được hậu thế tôn vinh là “Bà chúa thơ Nôm”, một nhân vật độc đáo của văn học Việt Nam với những tác phẩm mang giá trị nhân văn sâu sắc và sức sống bền bỉ qua nhiều thế kỷ.
Nữ sĩ Hồ Xuân Hương - người phụ nữ duy nhất trong số 8 danh nhân văn hóa thế giới của Việt Nam được UNESCO vinh danh cùng những tên tuổi lớn như Nguyễn Trãi, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nguyễn Du, Chu Văn An, Nguyễn Đình Chiểu, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác và Lê Quý Đôn.
Nữ danh nhân Việt Nam duy nhất được UNESCO vinh danh
Nữ sĩ Hồ Xuân Hương sinh vào khoảng cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, quê tại xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu (cũ), tỉnh Nghệ An. Theo nhiều tài liệu, bà là con của ông Hồ Phi Diễn và người vợ lẽ họ Hà. Ngay từ nhỏ, bà đã nổi tiếng thông minh, sắc sảo, tài hoa và có khả năng ứng đối nhanh nhạy.
Ngày 23/11/2021, tại Paris (Pháp), Đại hội đồng UNESCO lần thứ 41 đã thông qua danh sách “Danh nhân văn hóa và sự kiện lịch sử niên khóa 2022-2023” để vinh danh và kỷ niệm các nhân vật lịch sử có đóng góp nổi bật cho nhân loại.
Tại kỳ họp này, hồ sơ kỷ niệm 250 năm ngày sinh và 200 năm ngày mất của nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã được UNESCO thông qua.
Nghị quyết 41C/15 của UNESCO xác định 7 giá trị cốt lõi làm nên tầm vóc của Hồ Xuân Hương. Theo đó, bà là người có tư tưởng nhân văn mang tính phổ quát sâu sắc với hạt nhân là đấu tranh cho quyền sống của con người; là hiện tượng văn hóa – thẩm mỹ đặc biệt với hệ thống quan niệm độc đáo thể hiện qua các tác phẩm thi ca.
UNESCO cũng đánh giá Hồ Xuân Hương có đóng góp lớn cho nữ quyền và bình đẳng giới; di sản của bà không chỉ là thơ ca mà còn là hệ giá trị tinh thần hướng tới sự tiến bộ của con người. Bà đồng thời thể hiện ý thức phản biện mạnh mẽ đối với những tư tưởng cản trở sự phát triển xã hội, trong khi các tác phẩm của bà đã được dịch thuật, nghiên cứu và tiếp nhận ở nhiều quốc gia khác nhau.
Mang trong mình dòng máu xứ Nghệ nhưng trưởng thành trên đất Thăng Long, Hồ Xuân Hương được xem là sự giao thoa giữa hai vùng văn hóa lớn của dân tộc. Chất cương trực, mạnh mẽ của người xứ Nghệ hòa quyện với sự tinh tế, thanh lịch của đất Kinh Bắc đã tạo nên một nữ sĩ vừa cá tính, sắc sảo, vừa giàu chiều sâu nhân văn.
“Bà chúa thơ Nôm” của văn học Việt Nam
Hồ Xuân Hương được mệnh danh là “Bà chúa thơ Nôm” nhờ những đóng góp đặc biệt cho nền văn học dân tộc. Những tác phẩm thơ Nôm của bà như Bánh Trôi Nước, Vịnh Cái Quạt, Lời Mời Trầu... đến nay vẫn được nhiều thế hệ độc giả yêu mến bởi nghệ thuật điêu luyện, ý tứ sâu sắc và giá trị nhân văn bền vững.
Cuộc đời nữ sĩ trải qua nhiều thăng trầm và éo le khi hai lần duyên phận đều dang dở. Những tâm tư, khát vọng và nỗi niềm của người phụ nữ trong xã hội phong kiến đã được bà gửi gắm vào thơ ca bằng một giọng điệu vừa sắc sảo, vừa giàu cảm xúc.
Nhiều học giả cho rằng danh xưng “Bà chúa thơ Nôm” không chỉ đến từ số lượng tác phẩm mà còn bởi tài năng nghệ thuật xuất chúng của bà. Nhà thơ Xuân Diệu từng nhận xét: “Thơ Hồ Xuân Hương là đời của Xuân Hương, là người của Xuân Hương trong đó. Thơ Xuân Hương là hồn, là xác, là mắt nhìn, tay sờ, chân đi, là nụ cười, nước mắt của Xuân Hương, là cá tính số phận của Xuân Hương”.
Không chỉ nổi bật ở thơ Nôm, Hồ Xuân Hương còn để lại nhiều tác phẩm chữ Hán có giá trị. Theo cuốn Hồ Xuân Hương: Con Người - Tư Tưởng - Tác Phẩm, nhiều học giả đương thời cũng như các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã xếp bà vào hàng những nữ thi nhân viết chữ Hán xuất sắc nhất Việt Nam.
Thơ chữ Hán của Hồ Xuân Hương chủ yếu tập trung vào việc tả cảnh, xướng họa và bộc lộ tâm sự cá nhân. Dù ít mang tính đả kích xã hội như thơ Nôm, các tác phẩm này vẫn được đánh giá rất cao nhờ bút pháp chắc chắn, điêu luyện và chiều sâu tư tưởng.
Ngày nay, độc giả vẫn có thể tìm thấy những sáng tác chữ Hán của bà trong các tác phẩm như Lưu Hương Ký, Đề Vịnh Hạ Long, Hương Đình Cổ Nguyệt Thi Tập, Đồ Sơn Bát Vịnh...
Theo thông tin từ Báo Điện tử Chính phủ, tính đến năm 2021, thơ Hồ Xuân Hương đã được dịch ra 13 thứ tiếng trên thế giới. Với ngôn ngữ nghệ thuật giàu tính đa nghĩa, nhiều hàm ý sâu sắc cùng lối biểu đạt sắc sảo, tài hoa, thơ của bà được đánh giá là khó chuyển ngữ. Tuy vậy, chính những giá trị độc đáo ấy đã giúp di sản thơ ca Hồ Xuân Hương chinh phục nhiều thế hệ độc giả quốc tế.
Hơn hai thế kỷ đã trôi qua, những vần thơ của Hồ Xuân Hương vẫn tiếp tục được nghiên cứu, giảng dạy và yêu mến. Việc trở thành người phụ nữ duy nhất của Việt Nam được UNESCO vinh danh là danh nhân văn hóa thế giới không chỉ là sự ghi nhận dành cho tài năng của riêng bà, mà còn khẳng định vị trí đặc biệt của một tiếng nói nữ quyền tiên phong trong lịch sử văn hóa Việt Nam.
Tổng hợp
Nhật Linh
