Nhãn gốc hàng hóa nhập khẩu là gì và vì sao đặc biệt quan trọng?
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, nhãn gốc của hàng hóa nhập khẩu được hiểu là nhãn do tổ chức, cá nhân sản xuất hàng hóa tại nước ngoài gắn lên sản phẩm hoặc bao bì thương phẩm trước khi đưa hàng hóa vào lưu thông tại Việt Nam.
Nhãn gốc là cơ sở ban đầu để cơ quan quản lý nhà nước xác định nguồn gốc, xuất xứ, tính hợp pháp của hàng hóa, đồng thời là căn cứ để người tiêu dùng nhận biết thông tin cơ bản về sản phẩm.
Việc nhãn gốc không đầy đủ hoặc sai lệch nội dung không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi người tiêu dùng mà còn khiến doanh nghiệp nhập khẩu đối mặt với nguy cơ bị xử phạt, bị thu hồi hàng hóa hoặc buộc tiêu hủy theo quy định pháp luật hiện hành.
Ảnh minh họa.
Các nội dung bắt buộc phải có trên nhãn gốc của hàng hóa nhập khẩu
Luật sư Hoàng Thị Hương Giang - Đoàn Luật sư TP.Hà Nội cho biết trên Pháp luật Việt Nam: Căn cứ Điều 10 Nghị định 43/2017/NĐ-CP, được sửa đổi bởi khoản 5 Điều 1 Nghị định 111/2021/NĐ-CP quy định về những nội dung bắt buộc trên nhãn hàng hóa như sau:
Nhãn gốc của hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam bắt buộc phải thể hiện các nội dung sau bằng tiếng nước ngoài hoặc tiếng Việt khi làm thủ tục thông quan: Tên hàng hóa; Xuất xứ hàng hóa.
Trường hợp không xác định được xuất xứ thì ghi nơi thực hiện công đoạn cuối cùng để hoàn thiện hàng hóa theo quy định tại khoản 3 Điều 15 Nghị định 43/2017/NĐ-CP.
Tên hoặc tên viết tắt của tổ chức, cá nhân sản xuất hoặc tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về hàng hóa ở nước ngoài.
Trường hợp trên nhãn gốc hàng hóa chưa thể hiện tên đầy đủ và địa chỉ của tổ chức, cá nhân sản xuất hoặc tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về hàng hóa ở nước ngoài thì các nội dung này phải thể hiện đầy đủ trong tài liệu kèm theo hàng hóa.
Đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam có nhãn gốc tiếng nước ngoài, sau khi thực hiện thủ tục thông quan và chuyển về kho lưu giữ, tổ chức, cá nhân nhập khẩu phải thực hiện việc bổ sung nhãn hàng hóa ghi bằng tiếng Việt theo quy định trước khi đưa hàng hóa vào lưu thông tại thị thường Việt Nam.
Về ghi xuất xứ của hàng hóa nhập khẩu, tại Điều 15 Nghị định 43/2017/NĐ-CP, được sửa đổi bởi khoản 7 Điều 1 Nghị định 111/2021/NĐ-CP quy định như sau:
Tổ chức, cá nhân sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu tự xác định và ghi xuất xứ hàng hóa của mình bảo đảm trung thực, chính xác, tuân thủ các quy định pháp luật về xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, hàng hóa sản xuất tại Việt Nam hoặc các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia.
Xuất xứ hàng hóa ghi trên nhãn thể hiện bằng một trong các cụm từ sau: “sản xuất tại”; “chế tạo tại”; “nước sản xuất”; “xuất xứ”; “sản xuất bởi”; “sản phẩm của” kèm tên nước hoặc vùng lãnh thổ sản xuất ra hàng hóa hoặc ghi theo quy định pháp luật về xuất xứ hàng hóa.
Trường hợp hàng hóa không xác định được xuất xứ thì ghi nơi thực hiện công đoạn cuối cùng để hoàn thiện hàng hóa. Thể hiện bằng một trong các cụm hoặc kết hợp các cụm từ thể hiện công đoạn hoàn thiện hàng hóa như sau: “lắp ráp tại”; “đóng chai tại”; “phối trộn tại”; “hoàn tất tại”; “đóng gói tại”; “dán nhãn tại” kèm tên nước hoặc vùng lãnh thổ nơi thực hiện công đoạn cuối cùng để hoàn thiện hàng hóa.
Tên nước hoặc vùng lãnh thổ sản xuất ra hàng hóa hoặc nơi thực hiện công đoạn cuối cùng để hoàn thiện hàng hóa không được viết tắt.
