Những ngày tháng Bảy, nắng miền Trung hắt xuống mái căn nhà cấp bốn của vợ chồng ông Huỳnh Đức Nữa (SN 1950) và bà Cao Thị Hoa (SN 1947), trú phường Điện Bàn Đông, TP Đà Nẵng.
Trong căn phòng nhỏ, tiếng quạt máy quay đều. Ông Nữa nằm nghiêng người, gương mặt khẽ nhăn lại mỗi khi những cơn đau từ phần chân cụt bất chợt tái phát.
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày một quả mìn ở chiến trường cướp đi đôi chân của người lính đặc công. Thế nhưng, mỗi khi thời tiết thay đổi, những vết thương cũ lại nhức buốt, như một cách chiến tranh âm thầm trở về.
Ngồi bên cạnh, bà Hoa nhẹ nhàng xoa phần chân cụt của chồng. Động tác ấy chậm rãi, thành thục như một thói quen đã lặp đi lặp lại suốt gần 50 năm.
Bà không nói nhiều. Ông cũng không than vãn. Giữa họ là sự thấu hiểu được bồi đắp bằng cả một đời người.
Khó ai nghĩ rằng người phụ nữ tóc bạc đang lặng lẽ chăm sóc chồng hôm nay cũng chính là cô y tá năm nào từng gặp ông giữa khói lửa chiến tranh.
Lời hẹn giữa khói lửa
Năm 14 tuổi, khi nhiều bạn bè cùng trang lứa vẫn còn bên gia đình, Huỳnh Đức Nữa đã rời quê nhà Điện Ngọc để tham gia cách mạng.
Từ một cậu bé du kích, ông trở thành chiến sĩ Đại đội Đặc công biệt động Quận 3 - Đà Nẵng, tham gia nhiều trận đánh hiểm nguy. Trong những năm tháng chiến đấu, ông ba lần được phong tặng danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”.
Nhưng khi nhắc về chiến tranh, người lính già không nói nhiều đến những chiến công của mình. Điều khiến ông day dứt nhất vẫn là những đồng đội đã không thể trở về, những người mãi nằm lại khi tuổi đời còn rất trẻ.
Ở một nơi khác, cô gái Cao Thị Hoa khoác lên mình chiếc áo quân y. Công việc của bà là chăm sóc, cứu chữa những thương binh vừa bước ra khỏi lằn ranh sinh tử.
Họ gặp nhau trong một lần ông Nữa được đưa ra miền Bắc điều trị.
Giữa chiến tranh, tình yêu của họ không có những buổi hẹn hò dài, không có những cuộc dạo chơi hay kỷ niệm được lưu lại bằng hình ảnh. Thời gian ở bên nhau ngắn ngủi, bởi chẳng ai biết ngày mai mình sẽ tiếp tục ra trận hay vĩnh viễn không còn gặp lại.
Trước khi chia xa, họ trao nhau một lời hẹn: “Nếu một người hy sinh, người còn lại hãy đến thắp một nén nhang. Nếu cả hai còn sống, dù cách nhau bao xa cũng phải tìm được nhau”.
Lời hẹn được nói giữa những ngày bom đạn, giản dị nhưng đủ sức níu giữ hai con người qua những tháng năm dài đằng đẵng.
Đêm 10/3/1975, tại chiến trường Phước Lâm (huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam cũ) một tiếng nổ xé toạc màn đêm. Quả mìn phát nổ ngay dưới chân khiến người lính đặc công Huỳnh Đức Nữa bị thương nặng, phải cắt bỏ cả hai chân.
Khi tỉnh lại trong bệnh viện, ông hiểu rằng cuộc đời mình từ đây sẽ gắn với chiếc xe lăn. Điều khiến ông đau đớn không chỉ là thương tật, mà còn là ý nghĩ mình sẽ trở thành gánh nặng cho người con gái đang chờ đợi.
Sau ngày đất nước thống nhất, bà Hoa bắt đầu hành trình tìm người yêu.
Bà đạp xe đến nhiều bệnh viện, dò hỏi từng nơi từng tiếp nhận thương binh. Nghe tin ông đã được chuyển ra miền Bắc điều trị, bà lại tìm về gia đình ông ở Điện Ngọc để hỏi thăm.
Hết lần này đến lần khác, bà vẫn chỉ nhận được những cái lắc đầu.
Không địa chỉ. Không tin tức. Không ai biết người lính ấy đang điều trị ở đâu.
Trong thời gian đó, từ bệnh viện, ông Nữa viết cho bà một lá thư. Đó không phải là thư báo ngày trở về, mà là lời chia tay.
Ông khuyên bà hãy quên mình, tìm một người đàn ông lành lặn hơn để nương tựa. Với đôi chân không còn nguyên vẹn, ông nghĩ mình không thể mang lại cho bà một cuộc sống đủ đầy.
Nhưng ít lâu sau, ông nhận được thư hồi âm.
Bức thư không dài, chỉ có những lời mộc mạc nhưng khiến người lính từng nhiều lần đối mặt với bom đạn phải nghẹn ngào: “Anh yên tâm. Dù anh còn bước đi hay không, em vẫn giữ trọn lời hứa của chúng mình. Quãng đời còn lại, hãy để em làm đôi chân của anh”.
Cuối năm 1976, sau những tháng ngày tưởng như đã mất nhau, họ trở thành vợ chồng.
Đám cưới không có váy áo lộng lẫy, không nhẫn cưới đắt tiền hay tiệc lớn. Trong sự chứng kiến của người thân và đồng đội, người nữ quân y năm nào chính thức nắm tay người thương binh, bắt đầu một chặng đường mới nhiều gian nan nhưng chưa bao giờ thiếu tình yêu thương.
Gian nan, hạnh phúc và niềm an ủi tuổi già
Chiến tranh kết thúc, nhưng những mất mát mà nó để lại vẫn tiếp tục hiện diện trong cuộc sống của đôi vợ chồng trẻ.
Ông Nữa phải làm quen với chiếc xe lăn, với những cơn đau tái phát và vô số bất tiện trong sinh hoạt. Bà Hoa trở thành đôi chân của chồng, đồng thời gánh vác mọi việc lớn nhỏ trong gia đình.
Ba người con lần lượt ra đời. Cuộc sống thiếu thốn, bà vừa chăm chồng, vừa nuôi con, làm lụng để vun vén mái ấm.
Những năm sau đó, khi người con trai duy nhất chịu ảnh hưởng của chất độc da cam, rồi gia đình riêng đổ vỡ, hai vợ chồng già lại đón hai cháu nội về chăm sóc.
Tuổi đã cao, sức khỏe ngày một giảm, nhưng ông bà một lần nữa làm cha, làm mẹ, nuôi các cháu khôn lớn.
Những khó khăn cứ nối tiếp nhau, song hiếm khi người trong xóm nghe ông bà than trách số phận.
Không thể đi lại như người bình thường, ông Nữa tự học cách điều khiển chiếc xe ba bánh. Trên chiếc xe ấy, ông đến các buổi sinh hoạt Hội Cựu chiến binh, tham gia hoạt động tại địa phương, mang giấy mời đến từng nhà và góp sức tìm kiếm hài cốt đồng đội.
Mỗi chuyến đi của ông đều có sự chuẩn bị lặng lẽ của bà. Khi thì bà sửa lại vạt áo, lúc buộc giúp túi đồ, kiểm tra chiếc xe rồi đứng nhìn cho đến khi bóng chồng khuất khỏi con đường trước nhà.
Bà Hoa cũng được tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất vì những đóng góp trong những năm tháng chiến tranh. Ảnh: Tâm An
Bà Hoa cũng tích cực tham gia công tác Hội Phụ nữ và các hoạt động ở khu dân cư. Sau tất cả những mất mát, họ vẫn chọn sống có ích, như thể còn mang một món nợ với đồng đội, quê hương và những người đã nằm lại.
Giờ đây, mái tóc của cả hai đã bạc trắng. Những tấm huân chương, bằng khen treo trên tường cũng nhuốm màu thời gian.
Hai người cháu nội từng được ông bà cưu mang đã trưởng thành. Một người theo học đại học, người còn lại chọn nghề đầu bếp. Mỗi lần con cháu trở về, căn nhà nhỏ lại rộn ràng tiếng nói cười.
Với ông bà, đó có lẽ là sự bù đắp lớn nhất sau một đời trải qua quá nhiều mất mát.
Ngồi bên người vợ đã đồng hành cùng mình gần nửa thế kỷ, ông Nữa bảo bản thân vẫn may mắn hơn nhiều đồng đội đã vĩnh viễn nằm lại chiến trường.
Ông may mắn vì còn sống để nhìn thấy đất nước hòa bình, con cháu trưởng thành. Và hơn hết, ông đã tìm lại được người con gái năm xưa, cùng bà thực hiện lời hẹn giữa những ngày bom đạn.
Còn bà Hoa, khi được hỏi về những tháng năm chăm sóc người chồng mất cả hai chân, bà không nhắc đến hai chữ “hy sinh”.
Với bà, đó đơn giản là điều một người vợ làm cho người mình yêu thương.
Gần 50 năm qua, bà đã đưa chồng đi qua những cơn đau, những ngày thiếu thốn và cả những thời khắc tưởng như không thể gượng dậy. Đôi tay người nữ quân y năm nào không chỉ chăm sóc những vết thương trên cơ thể chồng, mà còn giúp ông giữ vững niềm tin để tiếp tục sống có ích.
Chuyện tình giữa cô y tá và người lính bị mất 2 chân không được lưu giữ bằng những bức ảnh cưới lộng lẫy. Nó hiện hữu trong chiếc xe lăn đã cũ, trong những chuyến xe ba bánh của người thương binh và trong đôi bàn tay người vợ vẫn hằng ngày xoa dịu những vết đau còn lại từ chiến tranh.
Đó không chỉ là câu chuyện tình yêu của hai con người, mà còn là vẻ đẹp của một thế hệ đã đi qua chiến tranh, chịu nhiều mất mát nhưng chưa bao giờ đánh mất lòng thủy chung, sự tử tế và khát vọng sống.
Sau gần nửa thế kỷ, lời hẹn giữa khói lửa năm nào vẫn được họ gìn giữ.
Một người không còn đôi chân.
Một người đã dành cả cuộc đời để cùng chồng bước tiếp.
Tâm An
