Trong lịch sử văn học Việt Nam, có không nhiều tác giả để lại dấu ấn sâu đậm cả ở lĩnh vực văn chương, giáo dục, y học lẫn tinh thần yêu nước như Nguyễn Đình Chiểu. Cuộc đời ông gắn với những nghịch cảnh tưởng chừng không thể vượt qua: mất ánh sáng đôi mắt khi tuổi đời còn trẻ, dang dở con đường khoa cử và nhiều lần đối diện biến cố cá nhân.
Thế nhưng từ hoàn cảnh ấy, Nguyễn Đình Chiểu vẫn trở thành nhà thơ lớn của dân tộc, để lại nhiều tác phẩm có sức sống bền bỉ qua nhiều thế hệ. Năm 2022, UNESCO đã cùng Việt Nam kỷ niệm 200 năm ngày sinh của ông, một lần nữa khẳng định giá trị vượt thời gian của người thầy, người thầy thuốc và nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu.
Từ cậu học trò đất Gia Định đến người thầy mù nổi tiếng Nam Bộ
Lịch sử văn học Việt Nam ghi nhận Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) là một trong những nhà thơ lớn nhất của miền Nam nửa sau thế kỷ XIX. Ông còn được biết đến với tên gọi Đồ Chiểu khi dạy học, tự Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ và sau khi bị mù lấy hiệu Hối Trai.
Nguyễn Đình Chiểu sinh ngày 13/5 năm Nhâm Ngọ (1/7/1822) tại làng Tân Thới, phủ Tân Bình, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định, nay thuộc TP.HCM. Ông xuất thân trong một gia đình nhà nho. Cha ông là Nguyễn Đình Huy, quê ở làng Bồ Điền, huyện Phong Điền, Thừa Thiên Huế cũ, từng theo Tả quân Lê Văn Duyệt vào Gia Định làm việc trong bộ máy hành chính.
Từ nhỏ, Nguyễn Đình Chiểu được mẹ chăm sóc và cho theo học chữ nghĩa với các thầy đồ trong làng. Biến động lịch sử xảy ra sau khi Tả quân Lê Văn Duyệt qua đời khiến gia đình ông gặp nhiều khó khăn. Cha ông phải ra Huế, còn Nguyễn Đình Chiểu được gửi theo học với một người bạn của cha. Ông sống tại Huế từ năm 11 tuổi đến năm 18 tuổi trước khi trở lại Gia Định.
Năm 1843, Nguyễn Đình Chiểu đỗ Tú tài khi mới 21 tuổi. Bốn năm sau, ông tiếp tục ra Huế chuẩn bị cho kỳ thi năm 1849. Tuy nhiên, bước ngoặt lớn nhất đời ông xảy ra vào cuối năm 1848 khi nhận tin mẹ qua đời. Nguyễn Đình Chiểu bỏ thi, đưa em trai trở về Nam chịu tang mẹ.
Trên hành trình trở về, vì quá đau buồn cùng điều kiện thời tiết khắc nghiệt, ông lâm bệnh nặng dẫn đến mù lòa. Trong thời gian chữa bệnh tại nhà một thầy thuốc dòng dõi Ngự y ở Quảng Nam, ông học thêm nghề y. Từ một chàng tú tài đầy triển vọng, Nguyễn Đình Chiểu rơi vào hoàn cảnh mù lòa, hôn thê bội ước, gia cảnh sa sút.
Dù vậy, ông không gục ngã. Sau thời gian chịu tang mẹ, Nguyễn Đình Chiểu mở trường dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho người dân ở Bình Vi (Gia Định). Năm 1854, ông kết hôn với bà Lê Thị Điền, em gái của một học trò cũ. Cuộc sống của ông gắn bó với vùng đất Cần Giuộc rồi Ba Tri cho đến cuối đời.
Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng nhận xét: “Nguyễn Đình Chiểu là một chí sĩ yêu nước, là nhà thơ lớn của nước ta, là ngôi sao sáng trên bầu trời văn nghệ dân tộc”. Nhận định ấy phản ánh đầy đủ cuộc đời và sự nghiệp của người thầy đồ mù đã vượt lên nghịch cảnh để cống hiến cho đất nước.
Nhà thơ yêu nước và “ngôi sao sáng” của văn học dân tộc
Không chỉ là thầy giáo và thầy thuốc, Nguyễn Đình Chiểu còn là nhà thơ lớn nhất của Việt Nam thế kỷ XIX. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng gọi ông là “ngôi sao sáng trên bầu trời văn nghệ dân tộc”.
Các sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu luôn gắn với đạo lý làm người, tinh thần trọng nghĩa khinh tài và lòng yêu nước sâu sắc. Trong bối cảnh thực dân Pháp xâm lược nước ta, ngòi bút của ông trở thành tiếng nói mạnh mẽ bênh vực nhân dân, lên án quân xâm lược và bày tỏ sự tiếc thương đối với những người đã ngã xuống vì đất nước.
Những tác phẩm của ông như Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Dương Từ – Hà Mậu, Ngư Tiều Vấn Đáp Nho Y Diễn Ca được đánh giá là những dấu mốc quan trọng của văn học yêu nước Việt Nam thế kỷ XIX.
Đặc biệt, tác phẩm Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc đến nay vẫn được xem là áng văn tế xuất sắc nhất của văn học Việt Nam, khắc họa hình tượng người nông dân áo vải đứng lên chống ngoại xâm với tất cả lòng quả cảm và tinh thần dân tộc.
Trong những năm cuối đời tại Ba Tri (Bến Tre), dù mù lòa, Nguyễn Đình Chiểu vẫn tiếp tục dạy học, bốc thuốc và sáng tác văn thơ. Ông qua đời ngày 3/7/1888, để lại một di sản đồ sộ về văn học và tư tưởng yêu nước.
Lục Vân Tiên - truyện thơ đỉnh cao của Nguyễn Đình Chiểu
Nhắc tới Nguyễn Đình Chiểu, tác phẩm nổi tiếng nhất chắc chắn là Lục Vân Tiên, được ông sáng tác khoảng đầu những năm 1850.
Tác phẩm kể về hành trình đầy thử thách của chàng thư sinh Lục Vân Tiên - người luôn lựa chọn lẽ phải, giúp đỡ người gặp nạn và cuối cùng được đền đáp xứng đáng. Nhiều nhà nghiên cứu nhận thấy cuộc đời nhân vật này có không ít điểm tương đồng với chính tác giả Nguyễn Đình Chiểu như từng bỏ dở con đường khoa cử để về chịu tang mẹ và phải đối mặt với cảnh mù lòa.
Với hơn 2.000 câu thơ lục bát, Lục Vân Tiên là bản trường ca ca ngợi chính nghĩa, lòng nhân ái và những giá trị đạo đức truyền thống của người Việt. Không chỉ được yêu thích trong nước, tác phẩm còn có sức lan tỏa mạnh mẽ ra nước ngoài.
Theo nhiều nghiên cứu, ngoài Truyện Kiều, hiếm có tác phẩm văn học trung đại Việt Nam nào có tầm ảnh hưởng quốc tế sâu rộng như Lục Vân Tiên. Tác phẩm đã được dịch sang 5 ngôn ngữ gồm tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Nhật, tiếng Hàn và tiếng Ukraine. Bản dịch tiếng Pháp đầu tiên xuất hiện từ năm 1899 với tên gọi Histoire de Luc Van Tien.
Đặc biệt, năm 2022, phiên bản song ngữ Việt - Hàn của Lục Vân Tiên được xuất bản, góp phần thúc đẩy các nghiên cứu về giao lưu văn hóa và văn học giữa Việt Nam với Hàn Quốc, Nhật Bản cùng nhiều quốc gia Đông Á.
Cũng trong năm này, phiên bản song ngữ Việt - Hàn của Lục Vân Tiên được xuất bản, tiếp tục mở rộng cầu nối giao lưu văn hóa giữa Việt Nam với các quốc gia trong khu vực như Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Campuchia và Trung Quốc.
Hơn 130 năm sau ngày qua đời, Nguyễn Đình Chiểu vẫn được nhắc đến như biểu tượng của ý chí vượt nghịch cảnh, của lòng yêu nước và của sức sống bền bỉ của văn chương Việt Nam. Từ một người thầy mù ở miền Nam thế kỷ XIX, ông đã trở thành danh nhân văn hóa có ảnh hưởng vượt ra ngoài biên giới quốc gia.
Tổng hợp
Nhật Linh
