Đó là cây Sở (Camellia sasanqua), thuộc họ Chè.
Loài cây này đã gắn bó với Lạng Sơn và Cao Bằng suốt nhiều thập kỷ, nay được nhìn nhận như một nguồn nguyên liệu quý cho ngành dầu thực vật chất lượng cao.
Cây sở có khả năng thích nghi tốt với đất nghèo dinh dưỡng, ít sâu bệnh, gần như không đòi hỏi nhiều phân bón hay hóa chất bảo vệ thực vật. Người trồng chủ yếu làm cỏ định kỳ, chăm sóc đơn giản và chờ đến mùa thu hoạch quả vào khoảng tháng 10 hằng năm.
Từ những năm 1960, cây sở đã được đưa vào nhóm cây trồng chủ lực nhằm phủ xanh đất trống, đồi núi trọc tại nhiều địa phương miền núi phía Bắc. Trải qua thời gian, loài cây này không chỉ góp phần cải tạo hệ sinh thái mà còn trở thành sinh kế quan trọng của nhiều hộ dân vùng cao.
Dầu sở: "Vàng lỏng" giàu Omega 3, 6, 9
Điểm đáng chú ý nhất nằm ở hạt sở – nguồn nguyên liệu để ép dầu sở. Hạt sở chứa hàm lượng dầu thực vật cao, sau khi ép lạnh cho ra loại dầu có giá trị dinh dưỡng tốt, được so sánh với một số loại dầu thực vật cao cấp trên thế giới.
Theo các ghi nhận trong sản xuất, dầu sở có thành phần axit béo không bão hòa như Omega 3, 6, 9, tương đương với nhiều loại dầu thực vật cao cấp khác. Trước đây, dầu sở chưa được khai thác hiệu quả do hạn chế về công nghệ khử mùi và chế biến, khiến giá trị thương mại chưa cao.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, nhờ ứng dụng công nghệ ép và tinh chế hiện đại, chất lượng dầu sở đã được cải thiện rõ rệt. Sản phẩm sau chế biến có mùi vị dễ chịu hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
Hiện nay, một số thị trường quốc tế khác đang quan tâm đến nguồn dầu thực vật tự nhiên, ít qua xử lý hóa học. Giá dầu sở thành phẩm dao động khoảng 400.000 đồng/lít, mức giá cao hơn nhiều so với các loại dầu thực vật phổ thông, phản ánh giá trị đặc thù của sản phẩm này.
Hiệu quả kinh tế từ mô hình trồng sở
Không chỉ có giá trị ở khâu chế biến, cây sở còn mang lại thu nhập tương đối ổn định cho người trồng. Trung bình, mỗi hecta sở có thể cho thu hoạch từ 2–3 tấn quả khô mỗi năm. Ngay cả khi bán thô, chưa qua ép dầu, nông dân vẫn có thể đạt mức thu nhập vài chục triệu đồng mỗi năm.
Theo ước tính tại một số địa phương, lợi nhuận ròng từ trồng sở dao động khoảng 30–50 triệu đồng/ha/năm tùy điều kiện canh tác và giá thu mua từng thời điểm. Khi được đầu tư chế biến sâu, giá trị kinh tế có thể tăng đáng kể so với bán nguyên liệu thô.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy phần lớn sản phẩm vẫn chủ yếu được xuất thô sang thị trường nước ngoài, do năng lực chế biến sâu trong nước còn hạn chế. Điều này khiến giá trị gia tăng chưa được giữ lại nhiều ở khâu sản xuất nội địa.
Trên báo Lạng Sơn thông tin hộ ông Hoàng Quang Trung (sinh năm 1963), khu Lao Động, thị trấn Lộc Bình đã chuyển hướng sang sản xuất cây giống và phát triển kinh tế nông nghiệp. Với kinh nghiệm tích lũy, ông tập trung vào ươm giống cây sở, đồng thời mở rộng sang cây trám ghép và cây hồi ghép để tận dụng diện tích đất đồi.
Hiện mỗi năm gia đình ông cung cấp ra thị trường khoảng 70.000 cây giống sở với giá trung bình 6.000 đồng/cây. Nhờ mô hình này, thu nhập của gia đình đạt trên 200 triệu đồng/năm sau khi trừ chi phí.
Không dừng lại ở sản xuất giống, từ năm 2018 ông Trung tiếp tục mở rộng diện tích trồng sở trên đất đồi của gia đình. Hiện đã có khoảng 4.000 cây được trồng, một số cây bắt đầu cho quả, hứa hẹn nguồn thu ổn định trong những năm tới.
Việc trồng sở vừa bảo vệ đất rừng, vừa mang lại kinh tế cho người dân địa phương làm giàu bền vững.
Minh Khang
