Trong giai đoạn phát triển mới, vai trò của doanh nghiệp và doanh nhân Việt Nam không chỉ thể hiện ở việc tạo ra của cải, việc làm và đóng góp ngân sách, mà còn ở khả năng hiện thực hóa các mục tiêu phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Cùng với yêu cầu đó, tư duy điều hành và quản trị quốc gia đang chuyển mạnh theo hướng kết hợp quản lý hiệu quả với kiến tạo phát triển; tăng cường hậu kiểm và quản trị dựa trên rủi ro ở những lĩnh vực phù hợp; chủ động xây dựng môi trường pháp lý, thể chế và chính sách thuận lợi để doanh nghiệp phát huy nguồn lực.
Xung quanh chủ đề này, phóng viên Đời sống và Pháp luật có cuộc phỏng vấn ĐBQH Nguyễn Thị Việt Nga, Phó Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội chuyên trách thành phố Hải Phòng khóa XVI, Ủy viên Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội.
ĐBQH Nguyễn Thị Việt Nga, Phó Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội chuyên trách thành phố Hải Phòng khóa XVI, Ủy viên Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội.
Tạo môi trường để doanh nghiệp làm ăn chân chính phát triển bền vững
ĐS&PL: Bà đánh giá thế nào về sự chuyển dịch sang tư duy kiến tạo phát triển trong xây dựng pháp luật thời gian qua? Sự chuyển dịch này có ý nghĩa như thế nào đối với khả năng phát triển bứt phá của doanh nghiệp?
ĐBQH Nguyễn Thị Việt Nga: Theo tôi, đây là sự chuyển dịch có ý nghĩa chiến lược trong tư duy quản trị quốc gia. Khi đất nước đặt mục tiêu phát triển cao hơn, Nhà nước cũng cần đổi mới cách quản lý, vừa bảo đảm trật tự, kỷ cương, vừa chủ động tạo điều kiện để các nguồn lực xã hội được huy động và sử dụng hiệu quả. Pháp luật càng cần trở thành nền tảng vững chắc để doanh nghiệp yên tâm đầu tư, sáng tạo và phát triển lâu dài.
Tinh thần đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị, cùng với định hướng phát triển kinh tế tư nhân trong Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị, cho thấy rõ sự chuyển động ấy. Việc xây dựng chính sách cần quan tâm sâu sắc hơn đến quyền tự do kinh doanh theo quy định pháp luật, động lực đầu tư và khả năng giải phóng nguồn lực của doanh nghiệp.
Ảnh minh họa: Báo Tuổi trẻ./ T.L
Tôi cho rằng ý nghĩa lớn nhất của tư duy kiến tạo nằm ở cách đặt câu hỏi khi xây dựng một quy định. Cơ quan quản lý cần xác định rủi ro nào phải kiểm soát, lợi ích công cộng nào phải bảo vệ; đồng thời xem xét doanh nghiệp sẽ chịu những chi phí gì và liệu có phương thức quản lý hiệu quả hơn hay không. Một yêu cầu thuận tiện cho cơ quan quản lý nhưng gây tốn kém không cần thiết cho hàng nghìn doanh nghiệp thì cần được xem xét lại.
Đối với doanh nghiệp, sự chuyển dịch này tác động trực tiếp đến khả năng bứt phá. Thời gian chờ hoàn thành thủ tục cũng có thể là thời gian vốn bị đình trệ, máy móc chưa được vận hành, người lao động chưa có việc làm và cơ hội thị trường bị bỏ lỡ. Tháo gỡ những trở ngại ấy sẽ giúp doanh nghiệp tập trung nguồn lực cho sản xuất, nghiên cứu và mở rộng kinh doanh.
Tuy nhiên, tư duy kiến tạo cũng đòi hỏi năng lực quản lý cao hơn. Hậu kiểm phải đi cùng tiêu chí rủi ro rõ ràng, dữ liệu đáng tin cậy và khả năng phát hiện, xử lý vi phạm. Sự kết hợp giữa tạo thuận lợi và giữ vững kỷ cương mới bảo đảm môi trường để doanh nghiệp làm ăn chân chính phát triển bền vững.
Ảnh minh họa: Hữu Thắng.
ĐS&PL: Theo bà, đâu là điểm mấu chốt để chuyển tư duy kiến tạo thành những điều kiện phát triển thuận lợi cho doanh nghiệp, doanh nhân?
ĐBQH Nguyễn Thị Việt Nga: Điểm mấu chốt là chuyển tinh thần kiến tạo thành trách nhiệm cụ thể trong từng quyết định và từng khâu thực thi. Một chủ trương đúng vẫn có thể chậm phát huy tác dụng nếu doanh nghiệp tiếp tục gặp những cách hiểu khác nhau giữa các cơ quan, phải bổ sung hồ sơ nhiều lần hoặc không biết ai chịu trách nhiệm giải quyết vướng mắc của mình.
Trước hết, cần đặt quyền kinh doanh hợp pháp và sự bình đẳng trong tiếp cận cơ hội ở vị trí trung tâm. Doanh nghiệp cần những quy tắc công khai, nhất quán để dù lớn hay nhỏ đều có thể dựa vào năng lực của mình để cạnh tranh. Môi trường thuận lợi là nơi người làm đúng pháp luật có thể tự tin tiến hành công việc, dự liệu được nghĩa vụ và bảo vệ được quyền lợi hợp pháp.
Tiếp đó, phải đổi mới cách đánh giá hiệu quả công vụ. Số văn bản ban hành hay số hồ sơ đã xử lý chưa phản ánh đầy đủ chất lượng phục vụ. Cần quan tâm hồ sơ được giải quyết trong bao lâu, doanh nghiệp phải đi lại bao nhiêu lần, có phát sinh yêu cầu ngoài quy định hay không và vướng mắc đã được xử lý đến cùng chưa. Trách nhiệm của người đứng đầu phải gắn với những kết quả này.
Năng lực và động lực của đội ngũ thực thi cũng rất quan trọng. Cán bộ cần được hướng dẫn rõ, được trang bị kiến thức và có cơ chế bảo vệ khi chủ động giải quyết công việc đúng pháp luật, đúng thẩm quyền. Đồng thời, phải xử lý nghiêm hành vi nhũng nhiễu, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm. Chúng ta không thể yêu cầu doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư trong khi bộ máy giải quyết công việc thiếu quyết đoán.
Doanh nghiệp cũng phải có cơ hội tham gia thực chất vào quá trình xây dựng chính sách. Việc tham vấn cần diễn ra đủ sớm, có phản hồi và giải trình về những ý kiến được tiếp thu hoặc chưa được tiếp thu. Khi kinh nghiệm thị trường gặp được trách nhiệm quản trị của Nhà nước, chính sách sẽ sát thực tế và khả thi hơn. Đó cũng là cách để doanh nghiệp, doanh nhân cùng kiến tạo sự phát triển của đất nước.
Ảnh minh họa: Người đưa tin
Để doanh nghiệp Việt vươn tầm thế giới
ĐS&PL: Trong thời đại số, những thay đổi về thể chế, chính sách và phương thức quản lý nhà nước tác động như thế nào đến khả năng đổi mới sáng tạo và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, thưa bà?
ĐBQH Nguyễn Thị Việt Nga: Trong thời đại số, chính sách tác động sâu sắc đến khả năng hình thành sản phẩm mới, tổ chức mô hình kinh doanh mới và tiếp cận thị trường của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có công nghệ tốt, đội ngũ giỏi và nhu cầu khách hàng rõ ràng vẫn khó phát triển nếu chưa xác định được cơ sở pháp lý để cung cấp dịch vụ, sử dụng dữ liệu hoặc bảo vệ tài sản trí tuệ. Vì vậy, chất lượng thể chế tác động trực tiếp đến năng lực cạnh tranh.
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia xác định thể chế là điều kiện tiên quyết, cần hoàn thiện và đi trước một bước; đồng thời đặt người dân, doanh nghiệp ở vị trí trung tâm, là chủ thể của quá trình này.
Tác động của chính sách thể hiện trước hết ở khả năng mở đường cho sáng tạo. Đối với những mô hình mới cần cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, phải xác định rõ phạm vi, thời gian, trách nhiệm, yêu cầu bảo vệ người dùng và điều kiện kết thúc thử nghiệm. Cách tiếp cận ấy giúp cơ quan quản lý hiểu công nghệ từ thực tế, đồng thời tạo cơ hội để doanh nghiệp chứng minh giá trị của giải pháp.
Thứ hai là giảm chi phí giao dịch. Khi dữ liệu được kết nối, giấy tờ hợp lệ được tái sử dụng và thủ tục được thực hiện trọn vẹn trên môi trường số, doanh nghiệp có thể dành nhiều thời gian hơn cho kinh doanh. Đặc biệt, doanh nghiệp nhỏ có thể tiếp cận dịch vụ công thuận tiện hơn và giảm nguồn lực dành cho việc thực hiện thủ tục.
Thứ ba là tạo dựng niềm tin trong giao dịch số. Những quy định rõ ràng về bảo vệ dữ liệu, sở hữu trí tuệ, an toàn thông tin và bảo vệ người tiêu dùng giúp doanh nghiệp phát triển trên nền tảng đáng tin cậy. Đây cũng là điều kiện để sản phẩm, dịch vụ Việt Nam tiếp cận những thị trường có tiêu chuẩn cao.
Tôi muốn nhấn mạnh rằng số hóa phải gắn với cải cách quy trình. Nếu hồ sơ đã nộp trực tuyến nhưng vẫn phải in ra, ký và nộp lại thì doanh nghiệp chưa nhận được đầy đủ lợi ích của chuyển đổi số. Công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi cách tổ chức công việc thay đổi tương ứng.
ĐS&PL: Bà đánh giá thế nào về tác động của những thay đổi chính sách thời gian qua đối với việc giải phóng nguồn lực, củng cố niềm tin và tạo cơ hội để doanh nghiệp lớn lên, vươn ra thị trường khu vực và quốc tế?
ĐBQH Nguyễn Thị Việt Nga: Những thay đổi thời gian qua đã tạo thêm cơ sở chính sách thuận lợi cho doanh nghiệp đầu tư và phát triển. Có thể thấy điều đó qua các cơ chế bảo vệ hoạt động kinh doanh hợp pháp, hỗ trợ đổi mới sáng tạo và mở rộng khả năng tiếp cận nguồn lực của doanh nghiệp.
Ví dụ, Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân quy định nguyên tắc không áp dụng hồi tố quy định pháp luật để xử lý bất lợi cho doanh nghiệp, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh. Nghị quyết cũng có các cơ chế hỗ trợ khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và mở rộng cơ hội tham gia của khu vực kinh tế tư nhân vào các dự án trọng điểm, dự án quan trọng quốc gia. Những quy định ấy tạo cơ sở để doanh nghiệp an tâm hơn khi đầu tư và nhìn thấy cơ hội phát triển rộng hơn.
Nguồn lực được giải phóng qua nhiều con đường. Thủ tục thông thoáng giúp vốn và tài sản sớm được đưa vào sử dụng. Quy định rõ ràng giúp doanh nghiệp giảm thời gian, chi phí tìm hiểu, giải trình và xử lý sự không thống nhất trong áp dụng pháp luật. Cơ hội tiếp cận thị trường công bằng khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào năng lực sản xuất, giảm thời gian tìm kiếm các mối quan hệ để giải quyết công việc.
Niềm tin cũng có thể chuyển hóa thành nguồn lực phát triển. Khi dự liệu được môi trường pháp lý và tin rằng quyền lợi hợp pháp được bảo vệ, doanh nghiệp có cơ sở để đầu tư dài hạn, đào tạo nhân lực, phát triển thương hiệu và nghiên cứu công nghệ. Đây là những khoản đầu tư cần nhiều năm mới có kết quả rõ ràng.
Tuy nhiên, cần đánh giá thận trọng tác động thực tế. Không nên đồng nhất việc ban hành cơ chế hỗ trợ với việc mọi doanh nghiệp đã tiếp cận được cơ chế đó, cũng chưa thể quy toàn bộ kết quả phát triển của doanh nghiệp cho một nhóm chính sách. Hiệu quả cần được kiểm chứng bằng thời gian giải quyết thủ tục, chi phí thực tế, khả năng tiếp cận đất đai, vốn và sự ổn định trong thực thi.
Để vươn ra thị trường quốc tế, doanh nghiệp cần nâng cao chất lượng sản phẩm, quản trị, năng suất và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế. Thể chế thuận lợi tạo cơ hội; năng lực của doanh nghiệp quyết định khả năng nắm bắt và duy trì cơ hội ấy.
Ảnh minh họa: Người đưa tin
ĐS&PL: Để doanh nghiệp, doanh nhân phát huy vai trò trong hiện thực hóa các mục tiêu phát triển đất nước, cần những yếu tố nào? Bà nhìn nhận ra sao về vai trò của cải cách thủ tục hành chính đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số?
ĐBQH Nguyễn Thị Việt Nga: Cần có sự tương tác tích cực giữa môi trường kinh doanh thuận lợi và năng lực tự đổi mới của doanh nghiệp. Nhà nước xây dựng thể chế minh bạch, bảo đảm cạnh tranh công bằng, phát triển hạ tầng và nguồn nhân lực. Doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ, nâng cao chất lượng quản trị, phát triển sản phẩm và mở rộng thị trường. Khi cả hai phía cùng hành động, nguồn lực mới có thể chuyển thành kết quả phát triển.
Doanh nhân cũng cần tầm nhìn vượt ra ngoài lợi ích trước mắt. Đóng góp cho đất nước thể hiện ở việc xây dựng doanh nghiệp có sức cạnh tranh lâu dài, tạo việc làm có chất lượng, đào tạo người lao động và thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ thuế, trách nhiệm bảo vệ môi trường. Các doanh nghiệp lớn cần phát huy vai trò dẫn dắt chuỗi cung ứng, tạo cơ hội để doanh nghiệp nhỏ cùng nâng cao năng lực. Khi đó, thành công của một doanh nghiệp có thể lan tỏa sang cả một ngành, một địa phương.
Trong quá trình ấy, cải cách thủ tục hành chính là đòn bẩy quan trọng. Nghị quyết số 66/NQ-CP ngày 26/3/2025 của Chính phủ về Chương trình cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh năm 2025 và 2026 đã đặt ra yêu cầu cụ thể về giảm thời gian giải quyết, chi phí tuân thủ và điều kiện kinh doanh.
Thủ tục được giải quyết nhanh hơn giúp dự án sớm triển khai, vốn quay vòng tốt hơn và doanh nghiệp kịp đáp ứng đơn hàng. Chi phí tuân thủ giảm tạo dư địa đầu tư. Quy trình minh bạch góp phần giảm chi phí không chính thức, củng cố niềm tin. Khi được thực hiện trên diện rộng, những cải thiện này có thể tạo tác động đáng kể đối với nền kinh tế.
Tuy nhiên, để đạt tăng trưởng hai con số, cần phát huy đồng thời nhiều động lực, từ năng suất lao động, khoa học và công nghệ đến chất lượng hạ tầng, nguồn nhân lực, sức mua và thị trường xuất khẩu. Cải cách thủ tục hành chính giúp những động lực ấy vận hành thuận lợi hơn, nhưng tự nó chưa đủ bảo đảm tốc độ tăng trưởng mong muốn.
Mục tiêu phải là tăng trưởng cao đi cùng chất lượng và sức chống chịu của nền kinh tế. Doanh nghiệp cần tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn, sử dụng nguồn lực hiệu quả và đứng vững trước biến động. Đó là nền tảng để duy trì tốc độ phát triển cao trong nhiều năm.
Ảnh minh họa: Tạp chí điện tử Đầu tư tài chính.
Biến khát vọng của doanh nhân thành nguồn năng lực phát triển của đất nước
ĐS&PL: Bà có những gợi mở nào để tạo ra không gian phát triển mới cho cộng đồng doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay?
ĐBQH Nguyễn Thị Việt Nga: Không gian phát triển mới cần được mở ra đồng thời từ thể chế, thị trường và năng lực đổi mới sáng tạo. Muốn vậy, có một số việc cần tập trung làm đến cùng.
Trước hết, cần rà soát quy định theo toàn bộ hành trình của một dự án đầu tư. Doanh nghiệp có thể phải thực hiện nhiều thủ tục về đất đai, xây dựng, môi trường và các yêu cầu chuyên ngành. Nếu mỗi cơ quan chỉ đơn giản hóa phần việc của mình, tổng thời gian thực hiện dự án vẫn có thể kéo dài do trình tự chồng chéo hoặc hồ sơ chưa được liên thông. Vì vậy, cần xác định rõ những khâu giao nhau giữa các thủ tục, cơ quan chủ trì và trách nhiệm phối hợp để xử lý tận gốc các ách tắc.
Thứ hai, phải tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển cả về quy mô và chất lượng. Bên cạnh hỗ trợ khởi nghiệp, cần quan tâm đến giai đoạn doanh nghiệp mở rộng sản xuất, đầu tư công nghệ và tham gia chuỗi cung ứng. Chính sách nên khuyến khích liên kết giữa doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp nhỏ, giữa doanh nghiệp với cơ sở nghiên cứu và đào tạo, qua đó tạo thêm cơ hội học hỏi, chuyển giao công nghệ và phát triển nhà cung cấp trong nước.
Thứ ba, cần mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường thông qua các cơ chế minh bạch. Tôi đề nghị chú trọng các cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ và mua sắm công theo quy định pháp luật, nhằm khuyến khích doanh nghiệp đề xuất giải pháp cho những vấn đề thực tiễn trong y tế, giáo dục, môi trường, logistics và dịch vụ công. Việc lựa chọn doanh nghiệp cần dựa trên tiêu chí công khai, bảo đảm cạnh tranh, chất lượng và hiệu quả.
Thứ tư, cần chuyển mạnh sang quản trị dựa trên dữ liệu và mức độ rủi ro. Doanh nghiệp tuân thủ tốt cần được giảm những cuộc kiểm tra không cần thiết; nguồn lực giám sát nên tập trung vào lĩnh vực, hành vi có nguy cơ gây thiệt hại lớn. Cách làm này vừa tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, vừa bảo vệ người tiêu dùng và môi trường cạnh tranh.
Cuối cùng, cần có cơ chế tiếp nhận, xử lý vướng mắc với đầu mối chịu trách nhiệm, thời hạn giải quyết và kết quả xử lý rõ ràng. Qua hoạt động giám sát, Quốc hội và các đại biểu Quốc hội cần tiếp tục theo dõi khoảng cách giữa quy định và thực thi, thúc đẩy khắc phục những điểm nghẽn có tính hệ thống.
Một không gian phát triển thực sự rộng mở là nơi doanh nghiệp nhìn thấy cơ hội, tiếp cận được nguồn lực và có đủ niềm tin để theo đuổi kế hoạch dài hạn. Khi đó, khát vọng của doanh nhân sẽ có điều kiện trở thành năng lực phát triển thực chất của đất nước.
ĐS&PL: Trân trọng cảm ơn bà!