Chắp cánh cho “đệ nhất danh trà” Thái Nguyên vươn tầm thế giới - Bài 2: Truy xuất nguồn gốc: “Chìa khóa” khẳng định giá trị cây chè, nâng cao thu nhập cho nông dân

Thứ 3, 29/09/2026 11:55
Từ những cuốn sổ ghi chép thủ công đến chiếc điện thoại có thể truy xuất thông tin về vùng trồng, việc ứng dụng công nghệ đang dần thay đổi cách người trồng chè ở Thái Nguyên quản lý sản xuất và đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng khắp 5 châu, 4 biển.

LTS: Nếu ở bài viết trước, câu chuyện truy xuất nguồn gốc được nhìn từ yêu cầu minh bạch hóa hành trình của một sản phẩm chè, thì ở bài 2, tuyến bài “Chắp cánh cho “đệ nhất danh trà” Thái Nguyên vươn tầm thế giới" đi sâu hơn vào những chủ thể trực tiếp tạo nên giá trị của mỗi búp chè: người nông dân và các hợp tác xã.

Một mã truy xuất có thể chỉ là vài thao tác quét trên điện thoại, nhưng phía sau đó là cả một quá trình thay đổi trong cách sản xuất. Người trồng chè phải từng bước hình thành thói quen ghi chép nhật ký canh tác, kiểm soát vật tư đầu vào, tuân thủ quy trình chăm sóc, thu hái; các hợp tác xã phải tổ chức lại vùng nguyên liệu, chuẩn hóa quy trình và xây dựng sự liên kết giữa các hộ dân. Đây cũng chính là những yêu cầu được đặt ra khi ngành chè Thái Nguyên hướng tới sản xuất hiện đại, an toàn và bền vững.

Thực tế cho thấy, với nhiều hộ dân, chuyển từ phương thức canh tác dựa nhiều vào kinh nghiệm sang sản xuất có quy trình, có dữ liệu không phải là câu chuyện một sớm một chiều. Chi phí đầu tư, kỹ năng sử dụng công nghệ, thói quen ghi chép và khả năng liên kết sản xuất vẫn là những vấn đề cần được tháo gỡ.

Nhưng từ những thay đổi ban đầu ấy, một giá trị mới đang dần hình thành: người làm chè không chỉ tạo ra sản phẩm mà còn có thể chứng minh nguồn gốc và chất lượng của sản phẩm mình làm ra. Đó cũng là lúc truy xuất nguồn gốc không còn là câu chuyện riêng của doanh nghiệp hay một yêu cầu từ thị trường, mà trở thành một phần trong quá trình nâng cao giá trị cây chè và cải thiện sinh kế của người dân.

Trong hành trình đưa “đệ nhất danh trà” Thái Nguyên vươn xa, công nghệ chỉ là công cụ. Điều quyết định vẫn là sự thay đổi từ chính những mắt xích đầu tiên của chuỗi giá trị. Khi người nông dân thay đổi cách làm, hợp tác xã thay đổi cách tổ chức sản xuất và doanh nghiệp thay đổi cách kiểm soát chất lượng, những thông tin được số hóa mới thực sự có giá trị.

Bài 2 của tuyến bài sẽ đi tìm câu trả lời: Người trồng chè được gì và phải thay đổi ra sao khi truy xuất nguồn gốc trở thành một phần tất yếu của sản xuất?

Thay đổi thói quen sản xuất, làm quen với công nghệ: Bài học kinh nghiệm từ một hợp tác xã đi lên từ hai bàn tay trắng

Trao đổi với PV Đời sống & Pháp luật, bà Đào Thanh Hảo, Giám đốc Hợp tác xã chè Hảo Đạt, tỉnh Thái Nguyên chia sẻ rằng, truy xuất nguồn gốc có ý nghĩa rất quan trọng đối với sản phẩm chè, nhất là trong bối cảnh người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến chất lượng, an toàn thực phẩm và nguồn gốc của sản phẩm mình sử dụng. Điều quan trọng nhất là làm thế nào để bà con hiểu truy xuất nguồn gốc không chỉ là yêu cầu thị trường mà còn giúp minh bạch chính sản phẩm mình làm ra, để từ đó tự nguyện tham gia hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản.

Đối với Hợp tác xã chè Hảo Đạt, việc truy xuất nguồn gốc cũng giúp quản lý vùng nguyên liệu chặt chẽ hơn. Từ quá trình chăm sóc cây chè đến thu hái, chế biến và đóng gói đều được ghi nhận, qua đó hợp tác xã có thể kiểm soát tốt hơn chất lượng sản phẩm và kịp thời phát hiện những khâu chưa phù hợp để điều chỉnh. Đây cũng là cơ sở để xây dựng quy trình sản xuất đồng nhất, nâng cao chất lượng và giữ ổn định thương hiệu chè.

Bà Đào Thanh Hảo, Giám đốc Hợp tác xã chè Hảo Đạt (xã Tân Cương, tỉnh Thái Nguyên).

Bà Đào Thanh Hảo, Giám đốc Hợp tác xã chè Hảo Đạt (xã Tân Cương, tỉnh Thái Nguyên).

Quan trọng hơn, truy xuất nguồn gốc không chỉ phục vụ người tiêu dùng trong nước mà còn là một trong những điều kiện để sản phẩm chè nâng cao khả năng tiếp cận các thị trường có yêu cầu cao. Khi sản phẩm có thông tin rõ ràng, minh bạch và có thể kiểm chứng, doanh nghiệp, đối tác phân phối cũng yên tâm hơn trong quá trình hợp tác.

"Tất nhiên, quá trình triển khai truy xuất nguồn gốc cũng đặt ra không ít yêu cầu đối với hợp tác xã và người dân, nhất là việc thay đổi thói quen sản xuất, ghi chép nhật ký đồng ruộng và sử dụng công nghệ. Nhưng đây là sự thay đổi cần thiết. Nếu muốn nâng giá trị cây chè, xây dựng thương hiệu bền vững và đưa sản phẩm đến những thị trường rộng lớn hơn thì việc kiểm soát chất lượng và minh bạch nguồn gốc phải được thực hiện ngay từ vùng nguyên liệu.

Theo tôi, truy xuất nguồn gốc không nên được nhìn nhận đơn thuần là việc dán một mã QR lên bao bì sản phẩm. Đằng sau mã QR đó phải là cả một quy trình sản xuất minh bạch, có dữ liệu và có trách nhiệm của người trồng chè, hợp tác xã và các đơn vị tham gia chuỗi. Khi làm được điều đó, truy xuất nguồn gốc sẽ trở thành công cụ để nâng cao chất lượng, củng cố niềm tin của người tiêu dùng và gia tăng giá trị cho sản phẩm chè”, bà Hảo nhấn mạnh.

Bà Đào Thanh Hảo cho biết, thời gian đầu các hộ dân còn gặp khó khăn bởi trình độ tiếp cận công nghệ chưa đồng đều, hợp tác xã phải bố trí cán bộ chuyên môn hướng dẫn trực tiếp. Tuy nhiên, sau một thời gian, người dân dần quen với việc dùng điện thoại thông minh để kiểm tra thông tin sản phẩm và nguồn gốc. Quan trọng hơn, người trồng chè dần dần thay đổi tư duy sản xuất. Không chỉ biết bán sản phẩm, mà còn cung cấp thêm thông tin để chứng minh nguồn gốc.

Phóng viên Đời sống và Pháp luật trao đổi với bà Đào Thanh Hảo, Giám đốc Hợp tác xã chè Hảo Đạt.

Phóng viên Đời sống và Pháp luật trao đổi với bà Đào Thanh Hảo, Giám đốc Hợp tác xã chè Hảo Đạt.

Theo bà Hảo, khi sản xuất theo phương thức truyền thống thì giá trị sản phẩm đôi khi chưa được phát huy hết và thông tin nguồn gốc cũng chưa minh bạch với khách hàng. Khi ứng dụng chuyển đổi số, đặc biệt là truy xuất nguồn gốc, sản phẩm trở nên minh bạch hơn, khách hàng có thể biết được nguồn gốc sản phẩm thông qua mã quét, từ đó có thêm thông tin để lựa chọn và sử dụng.

Điều đáng nói là giá trị lớn nhất không chỉ nằm ở chiếc mã QR trên bao bì, mà là quá trình người trồng chè thay đổi tư duy sản xuất. Khi mỗi công đoạn đều cần được ghi nhận, người trồng chè phải quan tâm nhiều hơn đến vật tư đầu vào, quy trình chăm sóc và chất lượng sản phẩm. Từ việc chỉ dựa vào kinh nghiệm, nay bà con bắt đầu kết hợp kinh nghiệm truyền thống với quy trình khoa học và công cụ số. Đây cũng là nền tảng để nâng cao chất lượng sản phẩm và đáp ứng yêu cầu thị trường.

Là một trong những hộ gia đình tham gia hệ thống truy xuất nguồn gốc đối với sản phẩm chè, chị Đỗ Thị Thuỳ (xã Tân Cương, tỉnh Thái Nguyên) cho biết, trước đây gia đình chủ yếu làm chè dựa vào kinh nghiệm. Nhiều thông tin từ chăm sóc, bón phân, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đến thu hái, chế biến thường được ghi nhớ hoặc ghi chép đơn giản.

Khó khăn đầu tiên là việc ghi chép phải đầy đủ và thường xuyên hơn. Mỗi lần sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật hay thực hiện một công đoạn chăm sóc đều phải có thông tin cụ thể để sau này khi cần có thể kiểm tra lại. Với những hộ đã quen làm chè theo kinh nghiệm nhiều năm thì việc ghi chép từng công đoạn như vậy ban đầu khá mất thời gian.

Khó khăn thứ hai là việc sử dụng công nghệ. Hệ thống truy xuất nguồn gốc yêu cầu người dân cập nhật thông tin trên điện thoại thông minh hoặc phần mềm. Với những người trẻ thì việc này có thể không quá khó, nhưng với người lớn tuổi, nhất là những người trước đây chủ yếu chỉ dùng điện thoại để nghe gọi, thì việc mở ứng dụng, đăng nhập, nhập thông tin hay quét mã QR vẫn còn khá bỡ ngỡ. Có những thao tác tưởng đơn giản nhưng chúng tôi phải làm đi làm lại mới nhớ được. Khi điện thoại gặp lỗi, mạng yếu hoặc phần mềm thay đổi giao diện thì lại phải nhờ người khác hỗ trợ.

Thu hoạch chè tại Hợp tác xã chè Hảo Đạt

Thu hoạch chè tại Hợp tác xã chè Hảo Đạt

Ngoài ra, việc ghi chép và cập nhật thông tin cũng đòi hỏi người trồng chè phải có ý thức và trách nhiệm cao hơn. Nếu chỉ một khâu không được cập nhật đầy đủ thì quá trình truy xuất có thể bị thiếu thông tin. Ví dụ, hôm nay phun thuốc nhưng quên ghi lại, vài ngày sau mới nhớ thì rất khó để xác định chính xác loại thuốc, liều lượng và thời điểm đã sử dụng. Vì vậy, muốn thực hiện tốt truy xuất nguồn gốc thì người dân không chỉ cần có thiết bị mà còn phải thay đổi cả thói quen sản xuất.

"Chúng tôi cũng hiểu rằng đây là yêu cầu cần thiết nếu muốn sản phẩm chè đi xa hơn và tạo được niềm tin với người tiêu dùng. Khi mọi công đoạn từ vùng trồng, chăm sóc, sử dụng vật tư nông nghiệp đến thu hái, chế biến đều được ghi nhận, người mua có thể biết được sản phẩm mình sử dụng được sản xuất như thế nào. Đối với người trồng chè, việc này cũng giúp mình sản xuất bài bản hơn, kiểm soát tốt hơn việc sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và nâng cao trách nhiệm với sản phẩm của chính mình", chị Thuỳ cho biết.

Khi giá trị cây chè gắn với sinh kế người nông dân

Bên cạnh thay đổi phương thức sản xuất, chi phí cũng là vấn đề được hợp tác xã và người dân quan tâm khi triển khai truy xuất nguồn gốc. Theo bà Đào Thanh Hảo, để thực hiện truy xuất nguồn gốc một cách bài bản, hợp tác xã phải đầu tư hệ thống phần mềm, thiết bị, tem nhãn, mã truy xuất; đồng thời bố trí người theo dõi, cập nhật dữ liệu và hướng dẫn các hộ thành viên thực hiện đúng quy trình.

Với người dân, ngoài việc thay đổi thói quen sản xuất, ghi chép đầy đủ các công đoạn, họ cũng phải sử dụng điện thoại thông minh và dành thêm thời gian để cập nhật thông tin. Đáng chú ý, chi phí không chỉ nằm ở giai đoạn triển khai ban đầu mà còn phát sinh trong quá trình duy trì hệ thống. Dữ liệu về vùng trồng, quá trình chăm sóc, thu hái, chế biến phải được cập nhật và quản lý liên tục.

Người dân chế biến chè

Người dân chế biến chè

Thực tế, để thực hiện truy xuất nguồn gốc một cách bài bản thì chi phí chắc chắn sẽ tăng. Hợp tác xã phải đầu tư hệ thống phần mềm, thiết bị, tem nhãn, mã truy xuất, đồng thời phải bố trí người theo dõi, cập nhật dữ liệu và hướng dẫn các hộ thành viên thực hiện đúng quy trình. Với người dân, ngoài việc thay đổi thói quen sản xuất, ghi chép đầy đủ các công đoạn thì cũng phải sử dụng điện thoại thông minh, dành thêm thời gian để cập nhật thông tin.

Đặc biệt, chi phí không chỉ nằm ở việc triển khai ban đầu mà còn phát sinh trong quá trình duy trì hệ thống. Dữ liệu phải được cập nhật thường xuyên, thông tin về vùng trồng, quá trình chăm sóc, thu hái, chế biến phải được quản lý liên tục. 

"Đối với một hợp tác xã, nhất là khi quy mô sản xuất còn chưa quá lớn, những khoản chi phí này cũng tạo thêm áp lực. Tuy nhiên, chúng tôi xác định đây là khoản đầu tư cần thiết cho quá trình nâng cao chất lượng và xây dựng thương hiệu. Khi sản phẩm có nguồn gốc rõ ràng, quy trình sản xuất minh bạch thì không chỉ người tiêu dùng yên tâm hơn mà hợp tác xã cũng có cơ sở để làm việc với các doanh nghiệp, nhà phân phối và hướng tới những thị trường yêu cầu cao hơn", bà Hảo nói

Theo bà, khi sản phẩm có nguồn gốc rõ ràng, quy trình sản xuất minh bạch, không chỉ người tiêu dùng yên tâm hơn mà hợp tác xã cũng có thêm cơ sở làm việc với doanh nghiệp, nhà phân phối và hướng tới những thị trường yêu cầu cao hơn. Tuy nhiên, để người dân và hợp tác xã có thể duy trì hệ thống lâu dài, rất cần sự hỗ trợ về công nghệ, tập huấn và một phần kinh phí trong giai đoạn đầu.

"Bởi nếu chi phí quá cao mà giá trị sản phẩm chưa tăng tương ứng thì người nông dân sẽ khó duy trì lâu dài. Truy xuất nguồn gốc chỉ thực sự hiệu quả khi trở thành một phần của chuỗi sản xuất và mang lại lợi ích tương xứng cho cả người trồng chè, hợp tác xã, doanh nghiệp và người tiêu dùng”, bà Hảo nói.

Theo bà Hảo, ứng dụng khoa học công nghệ đã giúp người dân từng bước nâng cao hiệu quả kinh tế, doanh thu của hợp tác xã cũng có sự tăng trưởng. “Chúng tôi cho rằng đây là một trong những hiệu quả tích cực của việc đưa khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp. Một mã quét mở ra thêm cánh cửa thị trường, nhưng để thật sự phát huy tác dụng, việc truy xuất nguồn gốc cần được triển khai đồng bộ và đầy đủ dữ liệu”, bà Hảo chia sẻ.

Trong thời gian tới, các hợp tác xã nông nghiệp vẫn cần tiếp tục được hỗ trợ về khoa học kỹ thuật, tổ chức thêm các lớp tập huấn để thành viên hợp tác xã và người nông dân có điều kiện tiếp cận công nghệ tốt hơn. Đối với người nông dân, việc được hướng dẫn trực tiếp cũng rất quan trọng để bà con hiểu và sử dụng công nghệ một cách chủ động, qua đó quảng bá sản phẩm hiệu quả hơn.

Chị Đỗ Thị Thuỳ, xã Tân Cương, tỉnh Thái Nguyên.

Chị Đỗ Thị Thuỳ, xã Tân Cương, tỉnh Thái Nguyên.

Chị Đỗ Thị Thuỳ cho rằng, người dân sẵn sàng học và thay đổi nhưng cần được hướng dẫn cụ thể và đồng hành lâu dài. “Chúng tôi mong các đơn vị triển khai tiếp tục tổ chức các lớp tập huấn trực tiếp, hướng dẫn theo cách đơn giản, dễ hiểu và phù hợp với người lớn tuổi. Nếu có cán bộ kỹ thuật đồng hành trong thời gian đầu, hướng dẫn từng bước và hỗ trợ khi người dân gặp khó khăn thì bà con sẽ dễ tiếp cận hơn.

Cùng với đó, phần mềm cũng nên được thiết kế đơn giản, ít thao tác, dễ sử dụng trên điện thoại. Khi đã quen, chúng tôi tin rằng việc truy xuất nguồn gốc sẽ không còn là gánh nặng mà trở thành một phần trong quy trình sản xuất chè hàng ngày.

Điều quan trọng nhất là người dân phải thấy được lợi ích thực tế từ việc truy xuất. Nếu sản phẩm có nguồn gốc rõ ràng, bảo đảm an toàn và được thị trường, doanh nghiệp, người tiêu dùng đánh giá cao thì người trồng chè cũng có thêm động lực để thay đổi cách làm. Chúng tôi sẵn sàng học và thay đổi, nhưng rất cần được hướng dẫn cụ thể và có sự đồng hành lâu dài để việc truy xuất nguồn gốc thực sự đi vào cuộc sống, chứ không chỉ dừng ở việc làm hồ sơ hay nhập dữ liệu”, chị Thuỳ chia sẻ.

Chia sẻ về cuộc sống hiện tại, chị Thuỳ cho biết, cây chè đã trở thành nguồn thu nhập chính và gắn bó với gia đình qua nhiều năm. Nhờ cây chè, đời sống của gia đình từng bước được cải thiện, những khoản chi tiêu lớn trong nhà cũng dần được chủ động hơn.

“Nhờ cây chè mà gia đình tôi có tiền lo cho các con ăn học. Từ tiền bán chè, chúng tôi trang trải được học phí, sách vở và các khoản sinh hoạt của con. Sau nhiều năm tích góp, gia đình cũng mua được chiếc xe để đi lại, phục vụ công việc. Ngôi nhà hiện nay cũng được xây dựng chủ yếu từ tiền tích góp từ những lứa chè. Vì vậy, chúng tôi luôn mong muốn sản phẩm chè ngày càng được nâng cao giá trị, có thị trường ổn định để người trồng chè yên tâm gắn bó lâu dài”, chị Thuỳ cho biết.

Từ những đồi chè xanh ở Tân Cương, từng cuốn nhật ký sản xuất đang được số hóa, từng quy trình được ghi nhận và từng mã QR được gắn lên sản phẩm. Đằng sau mã QR không chỉ là thông tin về nguồn gốc, mà còn là câu chuyện về cách người nông dân thay đổi để thích ứng với thị trường ngày càng coi trọng chất lượng và tính minh bạch.

Khi dữ liệu từ vùng nguyên liệu được kết nối với hợp tác xã, doanh nghiệp, nhà phân phối và người tiêu dùng, truy xuất nguồn gốc sẽ không còn là câu chuyện của riêng người trồng chè, mà trở thành một phần trong quá trình thay đổi cách sản xuất, quản lý và gia tăng giá trị cho chuỗi chè Thái Nguyên.  

(Còn nữa)

                                                                                                                    Bài và ảnh: Nguyễn Ngọc Lâm

Xem thêm: Chắp cánh cho “đệ nhất danh trà” Thái Nguyên vươn tầm thế giới - Bài 1: Chè Thái Nguyên và câu chuyện truy xuất nguồn gốc  

Cùng chuyên mục

Khởi tố người bị tố giác xúc phạm nhà văn Gào trên mạng xã hội

Thứ 3, 29/09/2026 12:48
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Trần Cát Tường để điều tra về tội "làm nhục người khác" liên quan tố giác của bà Vũ Phương Thanh - nhà văn Gào.

Bộ trưởng Bộ Tư pháp: Chế định luật sư công là một “đột phá thể chế” trong công tác bổ trợ tư pháp, nâng cao năng lực pháp lý cho khu vực công

Thứ 3, 29/09/2026 12:33
Từ ngày 1/10/2026, chế định luật sư công chính thức được thí điểm. Bộ Tư pháp yêu cầu các cơ quan thực hiện lựa chọn nhân sự phù hợp, phân công nhiệm vụ rõ ràng và bảo đảm tính độc lập chuyên môn trong hoạt động.

Hội Luật gia Việt Nam: Tăng cường kỹ năng thực thi Luật Tư pháp người chưa thành niên

Thứ 3, 29/09/2026 12:15
Thông qua khóa tập huấn về tư pháp người chưa thành niên, Hội Luật gia Việt Nam đang nâng cao kỹ năng cho đội ngũ cán bộ, qua đó hình thành lực lượng có khả năng truyền đạt, hướng dẫn và đưa các quy định mới của Luật vào thực tiễn tại cơ sở.

Bắt sống con trăn khổng lồ dài 3 mét, camera ghi lại khoảnh khắc thót tim

Thứ 3, 29/09/2026 12:06
Đoạn clip từ camera ghi lại cho thấy những người cứu hộ cẩn thận tiếp cận con trăn khi nó nằm trên bậc thềm bê tông.

Chắp cánh cho “đệ nhất danh trà” Thái Nguyên vươn tầm thế giới - Bài 2: Truy xuất nguồn gốc: “Chìa khóa” khẳng định giá trị cây chè, nâng cao thu nhập cho nông dân

Thứ 3, 29/09/2026 11:55
Từ những cuốn sổ ghi chép thủ công đến chiếc điện thoại có thể truy xuất thông tin về vùng trồng, việc ứng dụng công nghệ đang dần thay đổi cách người trồng chè ở Thái Nguyên quản lý sản xuất và đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng khắp 5 châu, 4 biển.
     
Nổi bật trong ngày

Cứu nạn khẩn cấp ngư dân bị bệnh nặng trên vùng biển thuộc đặc khu Trường Sa

Thứ 2, 28/09/2026 01:48
Trung tâm Phối hợp tìm kiếm, cứu nạn hàng hải Việt Nam đã tổ chức cứu nạn thành công một ngư dân bị bệnh nặng trên vùng biển thuộc đặc khu Trường Sa.

HoREA đề xuất bổ sung chính sách nhà ở cho cán bộ, công chức, viên chức

Thứ 2, 28/09/2026 01:58
HoREA đề xuất bổ sung điều kiện cư trú khi mua, thuê mua nhà ở xã hội, đồng thời xây dựng chính sách nhà ở riêng cho cán bộ, công chức, viên chức nhằm đáp ứng nhu cầu an cư và hỗ trợ lực lượng này yên tâm công tác.

Danh tính đối tượng giao cấu với bé gái vừa bị bắt tạm giam ở Quảng Ngãi

Thứ 2, 28/09/2026 02:00
Nam thanh niên 18 tuổi ở xã Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi vừa bị khởi tố, bắt tạm giam để điều tra tội Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi.

Lào Cai tập trung xúc tiến, thu hút đầu tư theo 4 trụ cột phát triển, triển khai 19 hoạt động trọng tâm trong năm 2027

Thứ 2, 28/09/2026 02:01
Lào Cai triển khai 19 hoạt động xúc tiến đầu tư năm 2027, tập trung thu hút các dự án chất lượng cao theo 4 trụ cột phát triển.

Đi qua cánh đồng, người phụ nữ bị sét đánh, ngã gục xuống đường

Thứ 2, 28/09/2026 02:10
Người phụ nữ 33 tuổi ở Tây Ninh đi qua khu vực cánh đồng, thưa thớt nhà dân và ít cây cối thì gặp mưa giông lớn. Bất ngờ, một tia sét đánh khiến chị ngã gục xuống đường.
xe.nguoiduatin.vn