Sự tích ông Công ông Táo
Hằng năm, sau rằm tháng Chạp, nhiều gia đình bắt đầu tất bật chuẩn bị cho lễ cúng ông Công ông Táo diễn ra khoảng một tuần sau đó. Bên cạnh việc sắm sửa vàng mã, mũ áo cho Táo quân, các bà nội trợ còn lên thực đơn mâm cỗ, tìm nơi mua cá chép để tiễn Táo về trời. Dù khá am hiểu các nghi thức cúng lễ, không ít người vẫn chưa thật sự rõ về nguồn gốc của những vị thần quen thuộc này.
Theo tín ngưỡng dân gian Việt Nam, Táo quân có nguồn gốc từ ba vị thần Thổ Công, Thổ Địa và Thổ Kỳ trong Lão giáo Trung Quốc. Khi du nhập vào Việt Nam, tín ngưỡng này được Việt hóa thành hình tượng “hai ông một bà”, tượng trưng cho thần Đất, thần Nhà và thần Bếp, thường được gọi chung là ông Công ông Táo hay Táo quân.
Sự tích về Táo quân được lưu truyền qua nhiều truyền thuyết khác nhau, trong đó phổ biến nhất là câu chuyện thường được biết đến với tên gọi “Sự tích ông đầu rau” hay “Sự tích vua Bếp”, với nhiều dị bản trong dân gian.
Sự tích về Táo quân được lưu truyền qua nhiều truyền thuyết khác nhau.
Chuyện kể rằng, ngày xưa có một đôi vợ chồng nghèo khó. Sau một năm mất mùa, người chồng phải đi làm ăn xa rồi bặt vô âm tín suốt nhiều năm. Người vợ tưởng chồng đã qua đời, để tang và sau đó tái giá với một người đàn ông từng cưu mang, giúp đỡ mình.
Một ngày nọ, khi người chồng sau vắng nhà, người chồng cũ bất ngờ trở về. Người vợ xúc động, tiếp đãi cơm rượu, nhưng lo sợ điều tiếng nên khuyên chồng cũ tạm ẩn trong đống rơm. Không ngờ, người chồng sau trở về, đốt rơm lấy tro bón ruộng, vô tình gây nên cái chết cho người chồng cũ.
Quá đau xót trước cái chết oan khuất ấy, người vợ lao vào lửa tự vẫn. Thấy vợ chết, người chồng sau vì thương xót cũng lao theo, dù chưa hiểu rõ sự tình. Cảm động trước nghĩa tình của ba con người, Ngọc Hoàng đã phong họ làm Táo quân, cho phép ở bên nhau mãi mãi.
Trong đó, người chồng sau được phong làm Thổ Công, trông coi việc bếp núc; người chồng cũ là Thổ Địa, cai quản việc trong nhà; còn người vợ là Thổ Kỳ, phụ trách việc chợ búa. Từ đó, ba vị được dân gian thờ phụng như những vị thần giữ lửa cho mỗi gia đình Việt.
Tranh vẽ minh họa sự tích ông đầu rau.
Nghi lễ cúng
Sở dĩ Táo quân được dân gian kính trọng vì ngoài việc coi sóc bếp núc để nuôi sống con người, ngài còn theo dõi và ghi chép lại sinh hoạt tốt xấu của người trong nhà để cuối năm trình tấu với Ngọc hoàng. Theo sách “Kính Táo toàn thư”, “Táo Thần hưởng nhang khói của một nhà, gìn giữ sức khỏe cho người trong gia đình, theo dõi việc thiện ác của gia đình, tâu trình công tội của nhà đó” (thụ nhất gia hương hỏa, bảo nhất gia khang thái, sát nhất gia thiện ác, tấu nhất gia công quá). Với nhiệm vụ bảo hộ sinh mạng cho gia chủ nên Táo Quân còn được gọi là Tư mệnh Thần quân.
Trước kia, người Trung Quốc tin rằng báo cáo của Táo quân thường được đưa về trời lúc nửa đêm ngày mùng một hoặc ngày rằm mỗi tháng (có khi là ngày Canh và ngày Thân hoặc ngày tối trời của tháng âm lịch). Hiện nay, đa số tin rằng ngày báo cáo đó rơi vào 23, 24, hoặc 25 tháng Chạp, dựa theo quy tắc “Quan tam, dân tứ, đại gia ngũ”. Theo đó, những nhà quan chức quyền quý cúng tiễn Táo quân vào ngày 23, người dân bình thường cúng ngày 24 còn giới thượng lưu (đại gia) tiễn ngày 25. Nhưng thường dân gian cúng ngày 23 để “lấy hơi quan” cho nhà mình được phát đạt.
Lễ đưa tiễn ông Táo được gọi là lễ “Tống Táo”. Vào ngày đó, người Trung Quốc bày phẩm vật cúng Táo Thần tại bàn thờ gần bếp, gồm những thức vừa ngọt vừa dẻo như dưa hấu, kẹo mạch nha, kẹo kéo, bánh da lợn, mật ong, bánh nếp…, dụng ý để cho thức ăn ngọt khiến Táo Thần về trời chỉ tâu những điều tốt lành “ngọt ngào” cho gia chủ. Thế nên có câu “Ngật điềm điềm, Thuyết hảo thoại” (Ăn ngọt ngọt, nói việc tốt) và câu “Hảo thoại truyền thượng thiên, Hoại thoại đâu nhất biên” (Lời nói tốt trình lên trời, Lời nói xấu gạt sang bên). Để “trám miệng” Táo Thần, người ta cũng dâng ngài một loại rượu riêng gọi là “Túy Tư Mệnh” (Ông Táo say). Ngoài ra còn có nước, cỏ khô và đậu nành làm thức ăn cho ngựa của Táo quân.
Lễ cúng ông Công ông Táo.
Khi cúng tiễn Táo quân, gia chủ dọn bày phẩm vật, đốt hương, châm rượu, khấn vái cầu xin rồi châm rượu thêm hai lần nữa. Tiếp đó, gỡ hình Táo quân cũ, kèm với hình con ngựa và giấy tiền vàng bạc đốt chung. Khi đốt xong rồi, phải nhặt lấy ít tro đặt vào bình mang đến trước bàn thờ Táo quân khấn: “Thượng thiên ngôn hảo sự, hồi cung giáng bình an” (Lên trời tâu việc tốt, trở về ban yên lành). Nhiều gia đình đốt pháo cho thêm long trọng, náo nhiệt. Như vậy, việc cúng tế Táo Thần có ý nghĩa “cầu phước tránh họa”.
Sau lễ tiễn Táo quân, đến chiều ba mươi Tết (có nơi là đêm Giao thừa) hoặc ngày mùng bốn tháng Giêng, phải làm lễ đón ngài từ trời quay trở về với gia chủ, gọi là lễ tiếp Táo. Lễ này có thể long trọng không kém lễ tiễn nhưng cũng có thể rất đơn giản, chỉ cần treo hình Táo quân và hình con ngựa mới, tượng trưng là ngài đã trở về trấn thủ trong nhà để tiếp tục phù hộ và giám sát việc thiện ác trong năm mới.
Ở Việt Nam, dân gian quan niệm ba vị Táo quân định đoạt phúc đức cho gia đình. Hằng năm, đúng ngày 23 tháng Chạp, các gia đình cúng tiễn ông Táo về trời, nhân tiện cúng gia tiên, nên ngày này gọi là "Tết ông Công". Trong số lễ vật, người miền Bắc (từ Nghệ An trở ra) thường cúng một con cá chép sống rồi thả ra sông hồ (phóng sinh). Có gia đình thả vào giếng hay bể, nuôi cá lớn với mong muốn cá trông coi gia đình luôn thịnh vượng, con cháu được đỗ đạt, làm ăn được hanh thông, bởi vì cá chép có thể hóa rồng để vượt qua chín tầng trời, đưa ông Táo gặp Ngọc hoàng.
Hiện nay, nhiều gia đình sử dụng cá chép giấy có kèm sẵn trong bộ quan miện của ông Táo. Người vùng Nam Trung Bộ trở vào không cúng cá chép mà đốt giấy in mộc bản hình “cò bay, ngựa chạy”. Người dân ở đây thường dâng hoa quả, kẹo, bánh mứt... miễn là đồ ngọt. Món bánh thường là bánh cốm làm bằng bột nếp rang nở. Riêng miền Nam lại cúng món bánh mè (vừng) gọi là “thèo lèo”.
Lý do cúng cá chép là vì loại cá này được người Việt và người Hoa xếp đứng đầu trong các loại cá nước ngọt. Truyền thuyết cho rằng, cá chép có thể hóa thành rồng nếu vượt qua Vũ môn. Với người Trung Quốc, Vũ môn (hay Long môn) là hai mỏm núi đá đứng sừng sững hai bên bờ một khúc sông Hoàng Hà, như hình cái cửa. Cửa này trước chật hẹp, khi Hạ Vũ trị thủy mới đục phá cho rộng thêm ra, nên gọi là Vũ môn (cửa ông Vũ). Sách “Tam Tần ký” ghi: “Long Môn là nơi sóng dữ, cá khó vượt qua, nếu vượt qua được thì sẽ hóa rồng”. Còn theo sách “Thủy kinh chú”, tiết tháng ba, cá chép vượt qua được Long Môn hóa rồng.
Theo “Ðại Nam nhất thống chí”, nước ta cũng có Vũ môn ở dãy núi Khai Trướng (Giăng Màn) thuộc huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh, là một dòng suối ba bậc. Tương truyền, mỗi năm đến tháng tư, mưa to, có nước nguồn thì cá chép ngược dòng vượt Vũ môn để hóa rồng. Vì thế, ca dao có câu “Tháng ba cá đi ăn thề/Tháng tư cá về, cá vượt Vũ Môn".
Với ý nghĩa này, người Việt dùng cá chép làm phương tiện tiễn Táo quân về trời, đồng thời cũng cầu mong sự thành đạt, thăng tiến.
