Tiến sĩ Kishore Nuthalapati - Giám đốc Tài chính của Công ty TNHH Dự án Hạ tầng BEKEM có trụ sở ở thành phố Hyderabad, bang Telangana, Ấn Độ - vào ngày 24/1 đã có bài viết đăng trên trang Metro India, nhận định về những gì Ấn Độ có thể học hỏi từ Việt Nam.
Việt Nam tiến hành chuyển đổi từ kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từ những năm 1980. Từ đó, Việt Nam đã chứng kiến sự trỗi dậy của khu vực tư nhân bên cạnh các doanh nghiệp nhà nước.
Những cải cách hành chính năng động đã tạo điều kiện cho sự tăng trưởng mạnh mẽ của khu vực tư nhân trong 10 năm qua. Hiện nay, khu vực tư nhân đóng góp 40% vào GDP của Việt Nam và có tiềm năng đóng góp cao hơn trong thời gian tới.
Xuất khẩu của Việt Nam đóng góp 90% vào GDP của cả nước. Với kim ngạch xuất khẩu 440 tỷ USD và nhập khẩu 400 tỷ USD, Việt Nam đã là một nền kinh tế thặng dư thương mại. Các đối tác nhập khẩu chính của Việt Nam là Mỹ (30%), Trung Quốc (15%), EU (14%), Hàn Quốc (7%) và Nhật Bản (6%). Các đối tác xuất khẩu chính sang Việt Nam là Trung Quốc (35%), Hàn Quốc (15%), Mỹ (5%), Nhật Bản (5%) và Đài Loan (Trung Quốc) (4%).
Việt Nam đã chuyển mình từ nền kinh tế lắp ráp sang nền kinh tế sản xuất công nghiệp giá trị cao. Với 17 hiệp định thương mại tự do và xuất khẩu đóng góp 90% vào GDP, Việt Nam nằm trong số các nền kinh tế thương mại hàng đầu thế giới.
Theo tác giả, các chính sách của Việt Nam rất thuận lợi cho việc hỗ trợ các ngành công nghiệp như linh kiện, phần mềm, chất bán dẫn và thiết bị. Việt Nam đang ưu tiên sản xuất công nghệ cao bằng cách tính khấu hao nhanh, phê duyệt nhanh chóng, hoàn thuế và thiết lập với chi phí thấp.
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Ấn Độ gấp khoảng 9 lần GDP của Việt Nam. Nhưng xét về GDP bình quân đầu người, Việt Nam gấp đôi Ấn Độ. Tăng trưởng GDP của Việt Nam cao hơn Ấn Độ. Tỷ lệ nợ công trên GDP của Ấn Độ là hơn 80%, trong khi ở Việt Nam chỉ là 34%. Tính theo tỷ lệ phần trăm GDP, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ròng vào Ấn Độ là 1,5%, trong khi ở Việt Nam là 4,5%. Đóng góp của ngành sản xuất vào GDP ở Ấn Độ là 20%, còn ở Việt Nam là 40%.
Xuất khẩu của Ấn Độ chiếm 20% GDP, trong khi con số này ở Việt Nam là 90%. Ấn Độ có thâm hụt tài khoản vãng lai 1%, còn Việt Nam có thặng dư 6%. Chỉ số tự do kinh tế của Ấn Độ đạt 53 điểm, trong khi Việt Nam ở mức cao hơn với 65 điểm.
Tuổi thọ trung bình của người dân Việt Nam cao hơn Ấn Độ 10 năm. Ngay cả ở các chỉ số khác như lạm phát, nghèo đói, thất nghiệp, tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh, tỷ lệ tử vong mẹ, hạnh phúc con người, năng suất lao động... Việt Nam cũng vượt trội hơn Ấn Độ.
Tiến sĩ Kishore nhận định, mặc dù Việt Nam đang đối mặt với những thách thức riêng, bao gồm tăng trưởng xuất khẩu chậm lại, tăng trưởng tín dụng cao đột biến, dân số già hóa, thiếu hụt cơ sở hạ tầng và nhu cầu vốn đầu tư lớn hơn... nhưng Việt Nam hiện có sự phân quyền cao với quyền tự chủ cấp tỉnh, và đã vươn lên từ nền kinh tế thu nhập thấp lên thu nhập trung bình. Việt Nam cũng dành 7% GDP cho cơ sở hạ tầng công cộng.
Theo tác giả, Ấn Độ có thể học hỏi từ Việt Nam và mở rộng thương mại song phương dựa trên sự hài hòa kinh tế giữa hai nước.
Năm 2026 đánh dấu kỷ niệm 10 năm Hiệp định Đối tác Chiến lược Toàn diện giữa Ấn Độ và Việt Nam. Mối quan hệ đối tác này trong 10 năm đã chứng kiến sự hỗ trợ lẫn nhau trong thương mại song phương, hiện đạt 15,7 tỷ USD. Trong đó, Ấn Độ nhập khẩu 10,3 tỷ USD từ Việt Nam và xuất khẩu 5,4 tỷ USD. Ấn Độ và Việt Nam đã chứng kiến những hợp tác mới trong các lĩnh vực công nghệ thanh toán kỹ thuật số, công nghệ quốc phòng, hỗ trợ an ninh hàng hải và xe điện...
Với tiềm năng tăng cường thương mại song phương giữa Ấn Độ và Việt Nam lên tới 50 tỷ USD, Ấn Độ có thể tìm kiếm thêm các cơ hội hợp tác cũng như học hỏi kinh nghiệm từ Việt Nam.
Duy Nguyễn
Theo Metro India
