Một phát hiện cổ sinh vật học chấn động vừa được công bố trên Tạp chí Cổ sinh vật học có hệ thống (Journal of Systematic Palaeontology), mang đến cái nhìn hoàn toàn mới về bức tranh sinh thái của kỷ phấn trắng cách đây 125 triệu năm.
Tại hệ tầng Yixian thuộc tỉnh Liêu Ninh - nơi nổi tiếng thế giới với sinh vật quần Jehol giàu có ở vùng đông bắc Trung Quốc - các nhà khoa học đã khai quật được bộ xương gần như trọn vẹn của một quái thú tiền sử kỳ lạ. Sinh vật này lập tức thu hút sự chú ý đặc biệt bởi sự tương phản đến khó tin giữa diện mạo bên ngoài và tập tính sinh tồn thực tế của nó.
Mẫu vật mang số hiệu IVPP V 18957 bảo tồn phần lớn hộp sọ và trọn vẹn hai chi trước, dù phần chi sau và chóp đuôi đã bị thất lạc qua thời gian.
Dựa trên các đốt xương sống và xương sọ chưa hoàn toàn hợp nhất, giới chuyên môn xác định đây chỉ là một cá thể đang ở độ tuổi bán trưởng thành.
Thế nhưng, con non này đã sở hữu chiều dài cơ thể đáng kinh ngạc: hơn 3,6 mét từ đầu đến đuôi, với khối lượng ước tính dao động từ 117 đến 274 kg. Kích thước này biến nó thành loài therizinosaur lớn nhất từng được ghi nhận trong toàn bộ sinh vật quần Jehol, vượt qua Beipiaosaurus với chiều dài gấp ít nhất 1,6 lần.
Loài sinh vật cổ đại này được đặt tên khoa học là Kayrasaurus changliensis. Danh pháp chi Kayrasaurus là sự kết hợp giữa Kayra - vị thần sáng tạo tối cao trong Saman giáo Turkic - và từ sauros trong tiếng Hy Lạp nghĩa là thằn lằn.
Trong thần thoại, Kayra là cha của Erlik, chi tiết này nhằm ám chỉ mối liên hệ tiến hóa trực tiếp của loài mới với loài Erlikosaurus. Trong khi đó, tên loài changliensis được đặt theo Xương Lê (Changli), địa danh lịch sử gắn liền với vùng đất phát lộ hóa thạch.
Về mặt phả hệ, Kayrasaurus changliensis thuộc nhóm therizinosaur - một nhánh kỳ dị xuất phát từ dòng dõi theropod vốn sản sinh ra những kẻ săn mồi khét tiếng như khủng long bạo chúa T. rex hay tổ tiên loài chim hiện đại.
Thoạt nhìn, sinh vật mang vóc dáng của một cỗ máy sát thủ đáng sợ với cặp chi trước trang bị những chiếc móng vuốt cong vút dài gần một mét tựa như những lưỡi hái tử thần. Tuy nhiên, trái ngược với vẻ ngoài ác mộng đó, Kayrasaurus lại là một loài ăn thực vật hoàn toàn hiền lành, chỉ dùng móng vuốt khổng lồ để níu kéo cành cây và gặm lá.
Dù hộp sọ của mẫu vật bị nén bẹp chỉ còn vài milimet dưới sức ép của các tầng địa chất, kỹ thuật phân tích hiện đại vẫn làm sáng tỏ cấu trúc giải phẫu độc nhất vô nhị. Khoang miệng của Kayrasaurus changliensis chứa một dàn răng dày đặc với hơn 32 răng ở hàm trên và hơn 45 răng ở hàm dưới.
Đây là số lượng răng hàm dưới cao nhất từng được ghi nhận ở một loài therizinosaur từ trước đến nay. Phần đầu mõm của nó hoàn toàn không có răng, xương mũi kéo dài bất thường về phía sau kết thúc bằng cấu trúc hai nhánh, và cổ của nó vươn dài với các đốt sống cổ ngắn nhất vẫn dài hơn 30% so với đốt sống lưng.
Đáng chú ý, mép trên của móng vuốt chi trước còn mang một phần gờ nhô lên như bờ môi - một cấu tạo chưa từng được tìm thấy ở bất kỳ họ hàng nào khác.
Khám phá về Kayrasaurus nâng tổng số therizinosaur thời kỳ đầu tại Jehol lên bốn đại diện, bên cạnh Beipiaosaurus, Jianchangosaurus và Lingyuanosaurus. Sự xuất hiện của gã khổng lồ mới này đã củng cố vững chắc cho giả thuyết về sự phân chia hốc sinh thái.
Trong khi Jianchangosaurus và Lingyuanosaurus sở hữu thân hình thanh mảnh, đôi chân dài linh hoạt để chạy trốn và dựa vào chi trước để tìm kiếm thức ăn, thì Beipiaosaurus và Kayrasaurus lại chọn hướng tiến hóa cơ thể đồ sộ, vạm vỡ, di chuyển chậm chạp và tập trung xử lý thức ăn trực tiếp bằng bộ hàm khỏe khoắn.
Đặc biệt, nhờ tầm vóc vượt trội hơn hẳn các loài láng giềng, Kayrasaurus changliensis có thể dễ dàng vươn tới những tán lá trên cao - nơi các họ hàng nhỏ bé hơn cùng thời không thể chạm tới.
Chiến lược này giúp nhiều loài khủng long ăn thực vật có quan hệ gần gũi cùng tồn tại hòa bình trong cùng một thảm thực vật mà không rơi vào cuộc chiến sinh tồn khốc liệt để giành giật nguồn thức ăn.
Dù các tác giả nghiên cứu lưu ý rằng việc phục dựng bước đi vẫn cần thêm dữ liệu do thiếu chi sau, Kayrasaurus changliensis đã chứng minh rằng dòng dõi theropod đã sớm phân hóa và thử nghiệm nhiều phương thức sinh tồn độc đáo ngay từ giai đoạn đầu của kỷ phấn trắng.
Đức Khương
